Danh mục: F9 Financial Management

[ACCA F9 Video Lectures] Chủ đề “Investment Appraisal”: NPV – IRR – DPP

Tiếp theo bài Đánh giá dự án đầu tư – Phần 1, chúng ta hãy đi tìm hiểu về 3 phương pháp đánh giá dự án đầu tư áp dụng kỹ thuật chiết khấu dòng tiền: NPV, IRR và DPP. Cụ thể, chúng ta sẽ đi tìm hiểu cách tính NPV và IRR cũng như DPP. Phần này tương ứng với Phần D trong sách BPP các bạn nhé!

VIDEO 7 – VIDEO 11

Phần 1. Cách tính NPV và IRR hay DPP

1. Phương pháp NPV

(1) NPV là gì? Công thức tính NPV?

NPV là viết tắt của Net Present value. Nghĩa là Giá trị hiện tại thuần của dự án đầu tư.

NPV được xác định bằng: “Tổng giá trị hiện tại của dòng tiền thuần hàng năm trong tương lai – Khoản vốn đầu tư ban đầu”

Tất cả “dòng tiền liên quan” đến dự án đều phải chiết khấu về thời điểm hiện tại theo một lãi suất chiết khấu nhất định. Trên cơ sở đó so sánh tổng giá trị hiện tại của dòng tiền thuần hàng năm và Vốn đầu tư ban đầu sẽ xác định được giá trị hiện tại thuần của dự án.

Cách xác định “dòng tiền liên quan” thì các bạn đọc ở bài Đánh giá dự án đầu tư – Phần 1

(2) Nguyên tắc lựa chọn

– Khi NPV < 0: thì dự án đầu tư bị từ chối.

– Khi NPV = 0: Doanh nghiệp có thể lựa chọn hoặc từ chối dự án.

– Khi NPV > 0: Nếu đó là các dự án độc lập nhau thì các dự án đầu tư đều có thể được chấp thuận. Ngược lại, nếu đó là các dự án loại trừ lẫn nhau thì dự án nào có NPV lớn nhất sẽ được chọn

(3) Bài tập tính NPV

1 Công ty đang cân nhắc 1 dự án 4 năm. Các thông tin liên quan:

  • Vốn đầu tư ban đầu cho dự án là 6 tỷ
  • Đầu năm 2, phải bổ sung VLĐ là 0.5 tỷ.
  • Số VLĐ này sẽ được thu hồi ở năm cuối cùng của DA.
  • Trong suốt mỗi năm từ Năm 1 – Năm 4, dự án sẽ tạo ra dòng tiền là 2tỷ / năm

Công ty có nên thực hiện dự án không? Biết r = 10%

Đáp án:

Chỉ tiêuNăm 0Năm 1Năm 2Năm 3Năm 4
1. Dòng tiền vào     
Dòng tiền từ HĐKD 2222
Thu hồi VLĐ    0.5
2. Dòng tiền ra     
Vốn ban đầu6    
Vốn bổ sung 0.5   
3. Dòng tiền thuần-61.5222.5
Hệ số chiết khấu tại 10% 1.00 0.91 0.83 0.75 0.68
Present Value (6) 1.36 1.65 1.50 1.71
NPV                                              0.23

Kết luận: Dự án có NPV > 0 nên được lựa chọn

Lưu ý về cách tính NPV trong excel

Vì giờ chúng ta thi trên máy nên các bạn nên học cách tính NPV trong excel để nhanh chóng kiểm tra kết quả tính toán thủ công của mình có đúng hay không. Các bạn xem file excel đính kèm để biết công thức và cách vận dụng nhé.

2. Phương pháp IRR

(1) IRR là gì?

IRR – Tỷ suất doanh lợi nội bộ (hay còn gọi là lãi suất hoàn vốn nội bộ): là một tỷ lệ mà khi chiết khấu dòng tiền thuần của dự án đầu tư với mức tỷ lệ này sẽ làm cho NPV của dự án đầu tư = 0.

(2) Nguyên tắc lựa chọn

IRR là một trong những thước đo mức sinh lời của một khoản đầu tư. IRR đóng vai trò như là điểm ngưỡng tối đa của chi phí sử dụng vốn (r) đối với dự án.

– Khi IRR < r (chi phí sử dụng vốn): loại bỏ

– Khi IRR = r: có thể lựa chọn hoặc từ chối dự án.

– Khi IRR > r: cần xem xét 2 trường hợp: Nếu đó là các dự án độc lập nhau thì các dự án đầu tư đều có thể được chấp thuận. Ngược lại, nếu đó là các dự án loại trừ lẫn nhau thì dự án nào có IRR lớn nhất sẽ được chọn.

(3) Cách xác định IRR

IRR = a + NPVa * (b – a) / (NPVa – NPVb)

Trong đó: a và b là tỷ lệ chiết khấu & a là tỷ lệ nhỏ hơn

Lưu ý khi tính IRR: Nếu bạn chọn 1 tỷ lệ chiết khấu đầu tiên mà có NPV > 0, thì tỷ lệ chiết khấu thứ 2 bạn nên chọn tỷ lệ > tỷ lệ thứ 1. Và ngược lại.

(4) Bài tập tính IRR

Tiếp tục bài tập về NPV bên trên. Tuy nhiên yêu cầu đánh giá dự án theo phương pháp IRR.

Tại r  = 10% thì NPV = 0.23

Như vậy, chúng ta cần tính thêm NPV tại 1 tỷ lệ chiết khấu khác. Vì tại r = 10% thì NPV > 0 nên chúng ta nên chọn 1 tỷ lệ chiết khấu > 10%. Ví dụ chọn r = 15%.

Áp dụng công thức tính NPV tương tự tại phần 2, ta có: tại r = 15% thì NPV = – 0.44

Như vậy: IRR = 10% + 0.23 * (15% – 10%) / (0.23 + 0.44) = 11.7%

Kết luận: Dự án có IRR > r nên dự án nên được lựa chọn.

Lưu ý cách tính IRR trong excel

Vì giờ chúng ta thi trên máy nên các bạn nên học cách tính IRR trong excel để nhanh chóng kiểm tra kết quả tính toán thủ công của mình có đúng hay không. Các bạn xem file excel đính kèm để biết công thức và cách vận dụng nhé.

3. So sánh phương pháp, cách tính NPV và IRR (IRR vs NPV)

  • IRR là phương pháp dễ hiểu hơn. Vì khái niệm IRR (tỷ suất sinh lời) sẽ dễ hiểu hơn so với khái niệm NPV. Do vậy, IRR thường được sử dụng nhiều hơn NPV.
  • Khái niệm IRR có 1 nhược điểm là dễ bị nhầm lẫn với khái niệm ROCE
  • IRR là số tương đối (%) nên không xem xét đến quy mô của khoản đầu tư. Trong khi những khoản đầu tư nhỏ thường sẽ có IRR cao hơn những khoản đầu tư lớn.
  • Khi dòng tiền của dự án là “conventional” (1 dòng tiền ra theo sau bởi các dòng tiền vào): 2 phương pháp sẽ đưa ra cùng kết quả lựa chọn dự án. Tuy nhiên, khi dòng tiền là “unconventional”: NPV vẫn áp dụng bình thường nhưng IRR sẽ có thể đưa ra kết quả sai. Vì với dòng tiền “unconventional”, phương pháp IRR có thể đưa ra nhiều kết quả IRR. Nếu người ra quyết định không biết vấn đề này, có thể sẽ đưa ra sai kết quả lựa chọn.
  • Giả định của NPV thực tế hơn IRR: NPV dựa trên giả định rằng dòng tiền do dự án tạo ra sẽ được tái đầu tư với tỷ lệ sinh lời = chi phí sử dụng vốn (tỷ lệ chiết khấu ban đầu) của dự án. Còn IRR giả định dòng tiền dự án tạo ra sẽ được tái đầu tư với tỷ lệ sinh lời tương đương tỷ lệ IRR ban đầu của dự án. Như vậy, giả định của IRR sẽ khó đạt được trong thực tế.
  • Khi các dự án là loại trừ lẫn nhau (chỉ 1 dự án được chọn): 2 phương pháp có thể đưa ra kết quả lựa chọn khác nhau. NPV sẽ là phương pháp được ưu tiên sử dụng vì giả định của NPV thực tế hơn IRR.
  • Khi tỷ lệ chiết khấu thay đổi qua thời gian thực hiện dự án: sự thay đổi này có thể dễ dàng được bao gồm trong phương pháp NPV. Nhưng IRR thì không.
  • Về cách tính NPV và IRR thì công thức tính toán của NPV đơn giản, dễ thực hiện hơn IRR

Kết luận: NPV là phương pháp có nhiều ưu điểm hơn. Nhưng IRR là phương pháp được sử dụng rộng rãi hơn trong thực tế.

4. Phương pháp Thời gian hoàn vốn có chiết khấu DPP (Discounted Payback Period)

Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (DPP): là khoảng thời gian cần thiết để tổng giá trị hiện tại của dòng tiền thuần trong tương lai mà dự án đưa lại = Số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.

Đây có thể coi là một biến thể nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp Thời gian hoàn vốn PP. Do vậy, nguyên tắc lựa chọn dự án và cách áp dụng của DPP sẽ hoàn toàn tương tự PP.

Điểm khác biệt đó là: PP sử dụng dòng tiền thuần của dự án (không có chiết khấu) trong khi DPP thì sử dụng giá trị hiện tại của dòng tiền thuần của dự án (có chiết khấu).

Ưu nhược điểm của DPP

Phương pháp này sẽ thừa hưởng các ưu điểm của phương pháp PP. Ví dụ như đơn giản, dễ thực hiện và tập trung vào tính thanh khoản của dự án. Ngoài ra, bởi vì nó sử dụng dòng tiền chiết khấu. Nên nó còn có ưu điểm là đã xem xét đến giá trị thời gian của dòng tiền. Do đó rút ngắn khoảng cách giữa phương pháp NPV và phương pháp Thời gian hoàn vốn thông thường.

So với phương pháp PP, vì DPP áp dụng kỹ thuật chiết khấu dòng tiền. Nên thời gian hoàn vốn tính theo DPP sẽ dài hơn theo PP. Do vậy, xem xét được nhiều dòng tiền của dự án hơn.

Tuy nhiên cũng như PP, DPP không xem xét đến dòng tiền của dự án sau thời gian hoàn vốn.

Ví dụ: Công ty xem xét 2 dự án A & B. Thời gian hoàn vốn có chiết khấu mong muốn: 2.5 năm. Chi phí sử dụng vốn: r = 10%. Thông tin về dòng tiền dự kiến của các dự án như sau:

Dòng tiềnDự án ADự án B
Vốn đầu tư ban đầu (Năm 0) 10,000 5,000
Lợi nhuận trước khấu hao:
Năm 1 4,000 3,000
Năm 2 4,000 2,500
Năm 3 5,000 1,500

Hỏi dự án nào sẽ được lựa chọn theo phương pháp DPP?

Đáp án:

Giả định rằng Lợi nhuận trước khấu hao = Dòng tiền thuần của mỗi dự án

Lập bảng tính thời gian hoàn vốn có chiết khấu cho các dự án như sau:

Dự án A

NămDòng tiềnDF 10%Giá trị hiện tại PVNPV luỹ kế
Năm 0 (10,000)1.0000 (10,000) (10,000)
Năm 1 4,0000.9091 3,636 (6,364)
Năm 2 4,0000.8264 3,306 (3,058)
Năm 3 5,0000.7513 3,757 699

Thời gian hoàn vốn có chiết khấu của A = 2 + 3.058/3.757 = 2.81 năm

Dự án B

NămDòng tiềnDF 10%Giá trị hiện tại PVNPV luỹ kế
Năm 0 (5,000)1.0000 (5,000) (5,000)
Năm 1 3,0000.9091 2,727 (2,273)
Năm 2 2,5000.8264 2,066 (207)
Năm 3 1,5000.7513 1,127 920

Thời gian hoàn vốn có chiết khấu của B = 2 + 207/1.127 = 2.18 năm

Kết luận: Dự án B có thời gian hoàn vốn có chiết khấu <= Thời gian hoàn vốn có chiết khấu mong muốn (2.5 năm). B là dự án được chọn.

Phần 2. Ưu nhược điểm của kỹ thuật chiết khấu dòng tiền (“DCF”)

Ưu điểmNhược điểm
1. Bao gồm giá trị thời gian của dòng tiền bằng cách chiết khấu dòng tiền tương lai về hiện tại1. Kỹ thuật này sử dụng các dòng tiền trong tương lai. Mà để dự đoán các dòng tiền này 1 cách chính xác là không dễ dàng
2.  Xem xét đến toàn bộ dòng tiền liên quan đến dự án2. Phương pháp NPV (áp dụng kỹ thuật này) sẽ không sử dụng được cho trường hợp khan hiếm vốn (Capital rationing)
3. Xem xét đến thời gian phát sinh của dòng tiền3. Không đơn giản để ước tính Tỷ lệ chiết khấu dòng tiền
4. Kỹ thuật này được áp dụng rộng rãi nên có thể dễ dàng so sánh giữa các dự án, doanh nghiệp với nhau4. Tỷ lệ chiết khấu có thể thay đổi theo thời gian thực hiện dự án. Do vậy, việc áp dụng 1 tỷ lệ duy nhất sẽ không phù hợp

Sau bài viết này, hy vọng các bạn đã biết cách tính NPV và IRR, DPP. Trong bài tiếp theo, chúng ta sẽ đi nốt các nội dung còn lại của Chủ đề Đánh giá dự án đầu tư.

[ACCA F9 LECTURES] Chủ đề “Working capital management” – Phần 1

Bài viết 2/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9 Financial Management – Chủ đề “Working capital Management” – Phần 1: Working capital là gì? Working capital Management là gì?

(Xem từ Video 1 – Video 7)

Nếu bạn thích đọc hơn thì bài viết này là dành cho bạn.

Chủ đề “Working capital Management” – Quản lý vốn lưu động tương ứng với Phần C (Chương 4 -> 6) trong sách BPP F9 Financial Management.

Chủ đề này sẽ đi giải thích về 3 chức năng của quản lý tài chính trong “Ngắn hạn“. Bao gồm: lập kế hoạch, kiểm soát tình hình thực hiện và các quyết định đầu tư/ tài trợ vốn đối với vốn lưu động.

Phần này theo mình thì sách của BPP trình bày không được rõ ràng lắm. Nhiều chỗ đọc mà không hiểu được tại sao nó lại xuất hiện. Hay nội dung này liên kết với các nội dung khác trong chủ đề như nào? Để không bị lạc vào mê cung của sách thì chúng ta cần tập trung vào 6 nội dung quan trọng sau:

(1) Working capital là gì? Working capital management là gì?
(2) Cách đánh giá tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty
(3) Quản lý hàng tồn kho
(4) Quản lý tiền
(5) Quản lý khoản phải thu
(6) 3 cách đầu tư và 3 chính sách tài trợ vốn lưu động

1. Working capital là gì? Working capital management là gì?

(1) Working capital là gì?Working capital tạm dịch là vốn lưu động. Và có thể hiểu đơn giản là các tài sản ngắn hạn sử dụng cho các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Ví dụ như: tiền, hàng tồn kho, khoản phải thu…

Vốn lưu động (“Working capital”) được đo lường bằng chỉ tiêu Tài sản ngắn hạn thuần: Net working capital = Current assets – Current liabilities

Mỗi 1 loại hình kinh doanh khác nhau sẽ có các đặc điểm về Vốn lưu động khác nhau. VD: DN bán lẻ như siêu thị sẽ có thời gian thu tiền cực ngắn, thời gian trả nhà cung cấp dài, thời gian dự trữ hàng tồn kho dài.

(2) Working capital management là gì?Quản lý vốn lưu động (“Working capital management”) phản ánh 2 chức năng của Financial Management là: Lập kế hoạch và kiểm soát tài chính trong ngắn hạn.

2 mục tiêu của quản lý vốn lưu động là: đảm bảo công ty có đủ nguồn lực thanh khoản để phục vụ HĐKD hàng ngày & gia tăng lợi nhuận.

Ở 1 mức độ nào đó thì 2 mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau. Ví dụ: Nếu công ty cắt giảm quá mức với HTK và thắt chặt tín dụng đối với khách hàng có thể sẽ khiến sản xuất bị gián đoạn. Hoặc mất khách hàng dẫn đến giảm lợi nhuận.

2 mục tiêu này sẽ không mâu thuẫn khi công ty áp dụng chính sách quản lý HTK và tín dụng 1 cách hợp lý. Như vậy, 1 công ty sẽ phải có chính sách quản lý hàng ngày đối với Vốn lưu động. Vì đảm bảo hoạt động trong ngắn hạn chính là nền tảng cho sự thành công của hoạt động dài hạn.

(3) Quan hệ giữa số vốn đầu tư vào tài sản lưu động với dòng tiềnQuan hệ này có thể được phản ánh qua chỉ tiêu Vòng quay vốn lưu động (Working capital cycle/ Cash operating cycle/ Trading cycle/ Cash conversion cycle).

Nó nghĩa là thời gian từ khi công ty trả tiền cho nhà cung cấp cho đến khi thu được tiền từ khách hàng. Và được xác định bằng: Inventory days + Receivable days – Payable days

Vòng quay này càng dài thì thời gian tiền bị đọng trong vốn lưu động càng lâu. Các công ty sẽ muốn giảm thời gian của vòng quay vốn lưu động. Tuy nhiên, vòng quay này sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc trưng ngành nghề, lĩnh vực hay sức mạnh của nhà cung cấp…

2. Đánh giá tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty

Để đánh giá tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty, có thể sử dụng 1 số tỷ lệ gọi là Working capital ratios. Có 6 tỷ lệ – chia làm 2 nhóm thường sử dụng:

(1) Tỷ lệ đánh giá khả năng thanh toán (tình hình thanh khoản)Tỷ lệ thanh toán hiện hành (Current ratio) = Current assets/Current liabilities
=> Ý nghĩa: công ty có thể thanh toán bao nhiêu lần nợ phải trả bằng tài sản ngắn hạn của công ty.

Tỷ lệ thanh toán nhanh (Quick/Acid test ratio) = (Current assets – Inventories)/Current liabilities

=> Ý nghĩa: công ty có thể thanh toán bao nhiêu lần nợ phải trả bằng các tài sản ngắn hạn không bao gồm HTK của công ty.

(2) Tỷ lệ đánh giá tốc độ lưu chuyển vốnKhoản phải thu

AR payment period/Accounts receivable days/Average collection period) = AR * Period time /Credit sales revenue

=> Ý nghĩa: phản ánh thời gian trung trình để công ty có thể thu hồi khoản phải thu của mình. Vòng quay càng nhanh thì công ty thu hồi vốn càng nhanh, hay ít bị chiếm dụng vốn.

Khoản phải trả

AP payment period = Average trade payables * Period time / Purchases or Cost of sales

=> Ý nghĩa: phản ánh thời gian trung trình để công ty thanh toán cho nhà cung cấp. Vòng quay càng dài thì công ty chiếm dụng vốn của nhà cung cấp càng lâu.

Hàng tồn kho

Số vòng quay HTK (Inventory turnover) = Cost of sales  / Average inventory

=> Ý nghĩa: phản ánh trong 1 kỳ HTK của công ty có thể lưu chuyển bao nhiêu vòng. Số vòng quay càng lớn thì HTK lưu chuyển càng nhanh.

Thời gian quay 1 vòng HTK (Inventory turnover period) = Average inventory * Period time / Cost of sales

=> Ý nghĩa: phản ánh 1 vòng quay HTK của công ty dài bao lâu. Thời gian quay 1 vòng HTK càng dài chứng tỏ HTK lưu chuyển càng chậm.

Lưu ý 2 chỉ tiêu này ngược với nhau. Và rất dễ nhầm lẫn.

Doanh thu:

Sales revenue/Net working capital  = Sales revenue / (Receivables + Inventory – Payables)

=> Ý nghĩa: phản ánh mức vốn lưu động cần thiết (không bao gồm tiền) để tạo ra doanh thu.

Các chỉ số này sẽ cho biết 1 công ty có đang bị đầu tư quá nhiều vốn (“over-capitalized”)? hay mua bán quá mức (“over-trading”) không?

  • “Over-capitalized” là tình trạng khi doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào Vốn lưu động
  • “Over-trading” là khi doanh nghiệp cố gắng kinh doanh quá nhiều trong khi quá ít Vốn lưu động

1 công ty sẽ bị coi là “over-capitalized” khi có các dấu hiệu như:

  • Tỷ lệ Sales revenue/Net working capital giảm
  • Vòng quay hàng tồn kho/ phải thu quá dài hoặc vòng quay khoản phải trả quá ngắn
  • Tỷ lệ khả năng thanh toán quá cao

1 công ty sẽ bị coi là “over-trading” khi có các dấu hiệu như:

  • Doanh thu tăng nhanh chóng
  • Vòng quay hàng tồn kho/phải thu quá ngắn hoặc Hàng tồn kho/Khoản phải thu tăng > gia tăng của doanh thu
  • Vốn chủ sở hữu chỉ tăng nhẹ. Và tài sản tăng chủ yếu từ nguồn tín dụng, phải trả hoặc over-draft
  • Tỷ lệ thanh toán nhanh giảm; Nợ phải trả ngắn hạn > Tài sản ngắn hạn; hoặc tỷ lệ tự tài trợ giảm (= Tài sản/ VCSH)

3. Quản lý Hàng tồn kho (HTK)

Có 2 mô hình phổ biến đế quản lý HTK là EOQ (“Economic order quantity”) và JIT (“Just-in-time”).

(1) Mô hình EOQ

Công ty cố gắng để kiểm soát HTK 1 cách khoa học trên cơ sở cân bằng chi phí do thiếu hụt HTK với chi phí dự trữ HTK.

Mô hình này sẽ tính ra quy mô đặt hàng tối ưu cho HTK nhằm tối thiểu chi phí đặt hàng & chi phí nắm giữ HTK. Với giả định:

  • Nhu cầu sản phẩm là không đổi
  • Chi phí mua hàng/sản phẩm là không đổi (không có giảm giá, chiết khấu…)

Công thức: EOQ = √(2CoD/Ch) 

Trong đó:

EOQ: quy mô đặt hàng để tối ưu chi phí (re-order amount)

Co: chi phí đặt 1 đơn hàng

Ch: chi phí nắm giữ 1 đơn vị HTK. Ví dụ: chi phí lưu kho, xử lý HTK, chi phí do hàng bị lạc hậu, kém phẩm chất, bảo hiểm…

D: Nhu cầu sản phẩm/1 kỳ.

(2) Mô hình JIT


Hệ thống quản lý HTK theo mô hình JIT có mục tiêu để giảm tối đa chi phí dự trữ HTK bằng cách chỉ đặt hàng khi có nhu cầu & chỉ sản xuất khi có đơn hàng từ khách hàng.Điều này giúp công ty có thể tối ưu sản phẩm hơn; giảm thời gian chờ nhận hàng (lead times); giảm chi phí làm lại; giảm chi phí sửa chữa; tránh được hàng hoá bị lạc hậu và giảm chi phí nắm giữ HTK.

Tuy nhiên phương pháp này cũng cần nhiều thời gian, chi phí để thực hiện. Nên không phải phù hợp cho mọi trường hợp.

Ví dụ: Bệnh viện là nơi mà vật dụng y tế (HTK) nếu thiếu hụt sẽ gây chết người. Nên không phù hợp để áp dụng JIT. Hoặc nhà hàng có thể áp dụng phương pháp truyền thống nhưng áp dụng JIT cho các nguyên liệu có thể nhanh hỏng hoặc độc hại.

Lưu ý

Trong phạm vi môn F9 – Financial Management, chúng ta xem xét 2 trường hợp đặc biệt – khi không thể áp dụng mô hình EOQ và JIT.

(3) Trường hợp đặc biệt 1

Khi có sự không chắc chắn trong nhu cầu về sản phẩm, thời gian cần đặt hàng & thời gian chờ nhận hàng (lead times), công ty sẽ không áp dụng được mô hình EOQ hay JIT.

Trường hợp này, công ty sẽ có thể quản lý HTK bằng cách xác định:

Ngưỡng đặt hàng (Re-order level) = maximum usage * maximum lead time

(Hàng tồn kho sẽ được đặt ngay khi dự trữ tồn kho chạm mức Re-order level)

Maximum level = Re-order level + Re-order quantity – (Minimum usage * minimum lead time)

(Chỉ tiêu này đóng vai trò cảnh báo nhà quản lý rằng HTK đang chạm đến ngưỡng lãng phí)

Minimum level/Buffer safety inventory = Re-order level – (Average usage * Average lead time)

(Chỉ tiêu này đóng vai trò cảnh báo nhà quản lý rằng HTK đang chạm đến ngưỡng nguy hiểm. Có khả năng không đủ HTK cho sản xuất)

Average inventory level = Buffer safety inventory + Re-order amount / 2

Ví dụ:

1 công ty có chính sách quản lý HTK như sau: Công ty sẽ đặt 40,000 sản phẩm khi số dư HTK đạt mức 20,000 sản phẩm. Tổng nhu cầu sản phẩm dự tính của năm sau là: 300,000 sản phẩm. Giả sử 1 năm có 50 tuần & nhu cầu sản phẩm là không đổi suốt cả năm. Đơn hàng sẽ được nhận hàng 2 tuần kể từ khi đặt hàng với nhà cung cấp.

Cách xử lý:

Thời gian chờ hàng về trung bình (Average Lead time) = 2 weeks

Ngưỡng đặt hàng (Re-order level): 20,000 units

Re-order amount: 40,000

Mức dự trữ HTK tối thiểu (Minimum inventory level/Buffer safety level):

= Re-order level – Average usage * Average lead time = 20,000 – 300,000/50 * 2 = 8,000 (units)

Mức dự trữ HTK trung bình (Average inventory level):

= Minimum inventory + re-order amount / 2 = 8,000 + 40,000/2 = 28,000 (units)

(4) Trường hợp đặc biệt 2

Khi công ty có thể nhận chiết khấu (discount) khi mua với số lượng lớn thì chi phí mua hàng sẽ thay đổi. Trường hợp này chúng ta không sử dụng được mô hình EOQ nữa vì mô hình này giả định chi phí mua hàng là không thay đổi.

Để quyết định có nên tận dụng ưu đãi và đặt hàng với số lượng lớn hay không, công ty phải xem phương án nào sẽ giúp tối thiểu chi phí liên quan đến HTK.

Chi phí này bao gồm: Chi phí mua hàng (“Purchasing cost”) + Chi phí đặt hàng (“Ordering cost”) + chi phí dự trữ HTK (“Holding cost”)

Ví dụ

1 công ty có nhu cầu sản phẩm hàng năm (Annual Demand) là 1,000 sản phẩm. Chi phí mua (Purchasing cost) là $10/unit. Chi phí dự trữ HTK (Holding cost) là: 10% Giá mua/unit/year. Chi phí đặt hàng (Ordering cost) là: $500/order. Nhà cung cấp đang đề xuất 2% discount nếu công ty đặt hàng với số lượng 500 units/order.

Công ty có nên sử dụng chiết khấu này không?

Cách xử lý:

Để đưa ra quyết định, công ty cần tính tổng chi phí liên quan đến HTK (Purchasing cost + Ordering cost + Holding cost) cho 2 trường hợp: chấp nhận và không chấp nhận discount.

TH1: Không có discount (khi này có thể áp dụng mô hình EOQ)

Mức đặt hàng tối ưu để tối thiểu chi phí: EOQ = √(2 * 500 * 1,000/1) = 1,000 (units)

Chi phí mua hàng: 1,000 units * $10 = $10,000

Chi phí dự trữ HTK = Average inventory * Holding cost/unit = EOQ/2 * 10%*$10 = $500

Chi phí đặt hàng = Number of order * Ordering cost/order = 1,000 units/1,000 units * $500 = $500

Total related-inventory costs = $10,000 + $500 + $500 = $11,000

TH2: Có discount (không thể áp dụng mô hình EOQ)

Chi phí mua hàng: 1,000 units * $10 * (1 – 2%) = $9,800

Chi phí dự trữ HTK = Average inventory * Holding cost/unit = 500 units/2 * 10%*$10 * (1-2%) = $245

Chi phí đặt hàng = Number of order * Ordering cost/order = 1,000 units/500 units * $500 = $1,000

Total related-inventory costs = $9,800 + $245 + $1,000 = $11,045

Kết luận: Chi phí trường hợp có áp dụng discount sẽ cao hơn khi không áp dụng discount. Công ty không nên sử dụng discount từ nhà cung cấp.

Xong Phần 1. Trong phần 2 của chủ đề “Working capital management”, chúng ta sẽ đi tìm hiểu nốt các nội dung còn lại của Chủ đề “Working capital management” bao gồm: Quản lý khoản phải thu, quản lý tiền và 3 cách đầu tư và 3 chính sách tài trợ vốn lưu động.

Nếu các bạn thấy vẫn chưa rõ thì có thể đọc thêm bài viết trên website của ACCA: F9 Financial Management: Quản lý vốn lưu động

[ACCA F9 Video Lectures]Chủ đề Định giá doanh nghiệp (“Business Valuation”)

Bài viết 9/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9 Financial Management – Chủ đề “Business Valuation”: Business value là gì? Các phương pháp định giá doanh nghiệp (“Methods of Business Valuation”)

(Total video: 5)

Có nhiều trường hợp mà các công ty cần phải định giá. Định giá doanh nghiệp không chỉ cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư tiềm năng biết “giá trị” (“Business Value”) của 1 công ty. Định giá doanh nghiệp còn là 1 công cụ để công ty kiểm soát xem hoạt động của công ty có đang theo đúng kế hoạch, mục tiêu tài chính đã đề ra không. Đó chính là lý do tại sao chúng ta phải học phần kiến thức này trong môn F9 Financial Management.

Có thể bạn quan tâm:  3 bước tự học ACCA F9 hiệu quả

Phần 1. Business Value là gì?

Business Value tạm dịch là giá trị doanh nghiệp. Nghĩa là toàn bộ lợi ích mà doanh nghiệp mang đến cho các bên liên quan (“Stakeholder”) của công ty. Như vậy, giá trị doanh nghiệp (“Business value”) sẽ bao gồm khả năng tạo ra doanh thu, sản phẩm, dịch vụ… của 1 công ty trong dài hạn. Tuy nhiên từ góc độ tài chính thì giá trị doanh nghiệp (“Business Value”) sẽ được xác định như sau:

Giá trị doanh nghiệp = Giá trị VCSH + Giá trị Nợ vay

Và khi nhắc đến xác định giá trị doanh nghiệp, thường sẽ có 2 cách hiểu:

  • Định giá giá trị doanh nghiệp thuộc về cả chủ sở hữu & chủ nợ (Business Valuation)
  • Định giá giá trị doanh nghiệp thuộc về các chủ sở hữu (Equity Valuation)

Do vậy, chúng ta cần đọc kỹ câu hỏi xem đề bài yêu cầu “Business valuation” hay “Equity valuation”.

Phần 2. Đâu là 20% kiến thức lõi cần học thật kỹ?

Phần kiến thức này thuộc Phần F trong sách F9 của BPP. Sau khi đã học xong Chi phí sử dụng vốn ở Phần E thì phần này sẽ không khó.

Lý do là vì trong Phần E, chúng ta đã học các công thức tính chi phí sử dụng vốn bằng cách dựa trên Gía thị trường của công cụ nợ/công cụ vốn. Trong phần này chúng ta vẫn sẽ sử dụng các công thức đó. Tuy nhiên làm ngược lại. Tức là sử dụng chi phí sử dụng vốn để tính ra Giá thị trường của công nợ và công cụ vốn.

Khi đọc sách phần này, bạn cần tập trung vào 3 nội dung cốt lõi:

(1) Các phương pháp định giá vốn chủ sở hữu (“Valuation methods for Equity)
(2) Các phương pháp định giá nợ phải trả (“Valuation methods for Debts”)
(3) Lý thuyết thị trường hiệu quả (“Market efficiency theories”)

1. Các phương pháp định giá Vốn chủ sở hữu (“Equity valuation”)

Trong phạm vi môn F9, chúng ta sẽ nghiên cứu 4 phương pháp định giá Vốn chủ sở hữu:

(1) Giá trị vốn hoá thị trường (“Market Capitalization”)

Đối với các công ty niêm yết trên sàn, giá trị VCSH (giá trị cổ phiếu – vốn hoá thị trường) có thể được xác định dễ dàng theo công thức:

Market capitalization = Số lượng cổ phiếu phát hành * Giá trị thị trường/cổ phiếu 

Đối với các công ty chưa niêm yết, giá trị cổ phiếu có thể không phản ánh 1 cách hợp lý giá trị doanh nghiệp. Do vậy, nếu có nhu cầu định giá thì sẽ cần sử dụng các phương pháp khác dưới đây.

(2) Định giá trên cơ sở tài sản (“Asset-based valuation”)

Công thức:

Giá trị cổ phần (VCSH) = Giá trị thuần của tài sản hữu hình (“Net tangible assets”) / Số lượng cổ phiếu (“Number of shares”)

Trong đó:

Net tangible assets = Net fixed tangible assets + current assets – Payables

Giá trị của tài sản vô hình (bao gồm cả Lợi thế thương mại) sẽ không được bao gồm trong công thức này trừ khi có giá trị thị trường và có thể mua bán được.

Cơ sở tài sản sử dụng (“Asset bases”)

Khó khăn nhất trong phương pháp này chính là việc lựa chọn cơ sở tài sản để sử dụng trong tính toán. Giá trị tài sản sẽ biến đổi phụ thuộc vào việc nó được định giá trên cơ sở nào?

Có 3 cơ sở tài sản có thể áp dụng:

  • Giá trị sổ sách của tài sản (“Net book value basis”)
  • Giá trị thuần có thể thực hiện được (“Net reliable value basis”)
  • Giá trị thay thế (“Replacement value basis”)

Để lựa chọn cơ sở phù hợp, sẽ phải cân nhắc nhiều yếu tố. Tuy nhiên thông thường “Net reliable value” có thể sẽ là cơ sở hữu ích nhất vì nó cung cấp cho người mua thông tin về giá trị thấp nhất mà họ nên chấp nhận.

(3) Định giá trên cơ sở thu nhập (“Income-based valuation”)

Trong phạm vi F9, chúng ta sẽ đi tìm hiểu 2 mô hình định giá dựa vào thu nhập của công ty: PE & Earning yields.

3.1. Mô hình PE

Đây là mô hình được sử dụng rộng rãi để định giá cổ phiếu bằng cách sử dụng hệ số PE của các công ty niêm yết để định giá các công ty chưa niêm yết.

Công thức liên quan:

PE = Market value / EPS

Giá trị thị trường/cổ phiếu (Market value per share) = EPS * PE

Tổng giá trị thị trường (Market value) = Total Earnings * PE

Có 1 số điểm cần lưu ý về hệ số PE:

  • Kỳ vọng về EPS sẽ gia tăng nhanh chóng
  • Các công ty có rủi ro thấp  sẽ được định giá ở mức PE cao hơn các công ty có rủi ro cao với sự không chắc chắn trong lợi nhuận
  • 1 công ty niêm yết đang dự định sát nhập/trao đổi cổ phần với 1 công ty không niêm yết thì công ty niêm yết thường sẽ kỳ vọng cổ phiếu của nó được định giá trên hệ số PE cao hơn là cổ phiếu của công ty không niêm yết. Lý do vì công ty niêm yết thường được cho là sẽ có rủi ro thấp hơn.

Các vấn đề khác cần cân nhắc ngoài hệ số PE

Khi công ty đã lựa chọn được hệ số PE phù hợp thì cũng mới chỉ là điểm bắt đầu của cuộc thương lượng. Công ty sẽ cần phải cân nhắc các vấn đề khác:

  • Khi bạn mua 1 công ty, bạn mua quyền được hưởng các khoản thu nhập trong tương lai chứ không phải thu nhập trong quá khứ. Do đó người mua cần cân nhắc earnings hiện tại sử dụng để xác định giá trị doanh nghiệp có phải là đại diện hợp lý cho “future earnings” chưa?
  • Các công ty niêm yết lớn sẽ có lợi thế và nên được định giá trên sở cao hơn là công ty nhỏ
  • Gía cổ phiểu niêm yết luôn biến động đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế thay đổi đột ngột. Khi đó hệ số PE lựa chọn đã hợp lý chưa?
  • Hệ số PE phù hợp cho các nghiệp vụ mua bán phần lớn cổ phiếu. Nếu công ty chỉ mua 1 lượng nhỏ cổ phiếu thì phương pháp này không phù hợp.

Sau khi đã thương lượng hết các điểm trên, hệ số PE sử dụng để đánh giá công ty chưa niêm yết thường sẽ rơi vào 1/2 – 2/3 hệ số PE đã chọn. Đây là cách xử lý được chấp nhận rộng rãi trong thực tế & cả trong đề thi ACCA môn F9.

Ví dụ. Công ty A định mua công ty B – là công ty chưa niêm yết với các thông tin:

  • Earnings của công ty qua 3 năm vừa qua là: 20X0: $100.000; 20X1: $150.000; 20X2: $200.000.
  • PE trung bình của ngành mà công ty B đang hoạt động là 10.
  • Công ty niêm yết có cùng đặc điểm với B có PE là 12. Các công ty này có triển vọng phát triển tốt.

Để định giá công ty B cần xác định thông tin về “Earnings” và “hệ số PE”:

Average earnings = ($100.000 + $150.000 + $200.000)/3 = $150,000

PE: Các công ty tương tự có triển vọng tốt và lại là niêm yết.Do vậy, để định giá B – nên sử dụng PE trung bình ngành thay vì của các công ty tương tự. Hệ số PE ngành: 10. Hệ số PE nên sử dụng: 2/3 * 10 = 7

Như vậy: Market value (B) = PE * Average earnings = $150.000 * 7 = $1.050.000

Vấn đề có thể gặp phải:

  • Khó khăn để tìm kiếm 1 công ty niêm yết với các hoạt động tương tự như công ty đang cần định giá
  • Hệ số PE của 1 năm đơn lẻ có thể không phải cơ sở tin cậy. Đặc biệt khi earnings biến động hoặc mức giá cổ phần của công ty niêm yết đang trong giai đoạn bất ổn.
  • Việc sử dụng hệ số PE hiện tại của 1 công ty niêm yết để định giá công ty mục tiêu là sử dụng thông tin trong quá khứ để đánh giá tương lai.
  • Công ty niêm yết có thể có cấu trúc vốn (rủi ro tài chính) khác với công ty mục tiêu

3.2. Mô hình Earnings yield

Công thức xác định:

Earnings yield = (EPS / Market value per share) * 100%

Market value = Total Earnings / Earnings yield

Chỉ số earnings yield ngược với PE (=1/PE) nên các hướng dẫn áp dụng cho PE cũng áp dụng cho mô hình này.

Nếu earnings có sự tăng trưởng, chúng ta có thể bổ sung thêm tốc độ tăng trưởng vào công thức:

Market value = Earnings * (1+g) / (Earnings yield – g)

(4) Định giá theo cơ sở dòng tiền (“Cashflow based valuation”)

Phương pháp này bao gồm 3 mô hình:

  • Dividend valuation model
  • Dividend growth model
  • Cash flow model

Cả 2 mô hình đầu tiên chúng ta đều đã học ở chủ đề về “The cost of capital”. Điểm khác là thay vì dựa vào giá trị thị trường của công cụ vốn để tính chi phí sử dụng vốn, chúng ta sẽ dựa vào chi phí sử dụng vốn để tính giá trị thị trường của công cụ vốn.

Có thể bạn quan tâm: ACCA F9 Lectures: Chủ đề “The cost of capital”

Với “cash flow model”, bản chất là chúng ta sử dụng dòng tiền chiết khấu để định giá. Phương pháp này sẽ phù hợp khi 1 công ty đang có ý định mua tài sản của 1 công ty khác & để thực hiện các khoản đầu tư khác để cải thiện dòng tiền trong tương lai.

Phương pháp này gồm 2 bước:

Bước 1: Ước tính dòng tiền sẽ thu được hàng năm từ hoạt động kinh doanh đã được mua lại

Bước 2. Chiết khấu dòng tiền này về hiện tại.

2. Các phương pháp định giá Nợ phải trả

Tương tự như phần khi đi tính chi phí sử dụng vốn của nguồn vốn vay, khi định giá của các loại vốn vay, chúng ta cũng phải đi xem xét cho từng loại trường hợp:

  • Nợ không hoàn lại (“Irredeemable debt”)
  • Nợ có hoàn lại (“Redeemable debt”)
  • Trường hợp đặc biệt: Công cụ nợ có thể chuyển đổi (“Convertible debts”) & Cổ phiếu ưu đãi (“Preference shares”)

Công thức áp dụng đều đã được giải thích chi tiết ở bài ACCA F9 Lectures: Chủ đề “The cost of capital”. Các bạn tự xem lại nếu cần nhé.

1 số lưu ý khi làm bài tập:

Trái phiếu luôn được phát hành với giá trị danh nghĩa (“nominal value”) là $100/trái phiếu. Chúng ta cần sử dụng giá trị này khi tính tiền lãi nhận hàng kỳ của trái phiếu.

  • Tỷ lệ lãi suất của công cụ nợ còn gọi là “Coupon rate”
  • Interest yield = Coupon interest / Market price
  • Trong toàn bộ công thức tính giá công cụ nợ/vốn: Po là ex-dividend price hoặc ex-interest price.
  • Luôn cần bao gồm ảnh hưởng của thuế vào công thức tính toán trừ khi đề bài đề cập “Tax is ignored” và “Preference share”.

3. Lý thuyết về thị trường hiệu quả (“The efficient market hypothesis”)

Tại sao chúng ta phải học về các thuyết này?

Vì các thuyết này đưa ra giải thích mối quan hệ giữa biến động của giá cổ phiếu với thông tin trên thị trường.

3 dạng hiệu quả của thị trường:

  • Allocative efficiency: là sự phân bổ nguồn vốn 1 cách trực tiếp đến các công ty có thể sử dụng nguồn vốn 1 cách hiệu quả nhất.
  • Operational efficiency: là sự duy trì chi phí giao dịch ở mức thấp nhất có thể.
  • Information processing efficiency: khả năng định giá cổ phiếu/trái phiếu 1 cách nhanh chóng & hợp lý. Nghĩa là giá của tất cả chứng khoán trên thị trường phản ánh tất cả các thông tin có sẵn.
3 “cấp độ hiệu quả” của thị trường:(1) Weak form efficiency: thị trường không phản hồi hiệu quả đối với các sự kiện ảnh hưởng đến các công ty & giá cổ phiếu. Giá cổ phiếu chỉ phản ánh các biến động về giá trong quá khứ. Và khi đó nhà đầu tư sẽ không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách nghiên cứu các biến động giá trong quá khứ (“technial analysis”).

(2) Semi-strong efficiency: giá cổ phiếu sẽ phản ánh 1 cách nhanh chóng các thông tin mới ngay khi chúng xuất hiện:

  • Toàn bộ thông tin liên quan về biến động giá trong quá khứ của cổ phiếu và các hệ quả của chúng
  • Toàn bộ các thông tin sẵn có về lợi nhuận công ty & lợi nhuận thị trường đã được công bố rộng rãi

(3) Strong efficiency: Gía cổ phiếu phản ánh toàn bộ thông tin dù thông tin có được công bố hay chưa bao gồm:

  • Biến động giá cổ phiếu trong quá khứ
  • Các thông tin về doanh nghiệp đã được công bố
  • Các thông tin về nội bộ doanh nghiệp của các chuyên gia
Các đặc điểm của 1 thị trường “strong efficient” hoặc “semi-strong efficient”:

  • Giá của chứng khoán phản ánh toàn bộ thông tin liên quan đã công bố cho người mua/bán. Và giá chứng khoán sẽ thay đổi nhanh chóng để phản ánh toàn bộ thông tin mới về các triển vọng tương lai.
  • Sẽ không có cá nhân nào có thể độc quyền thị trường
  • Chi phí giao dịch chứng khoán là không quá cao đến mức khiến người giao dịch ngần ngại
  • Nhà đầu tư sẽ đưa ra các quyết định mua bán 1 cách lý trý và định giá chứng khoán 1 cách hợp lý
  • Chi phí để mua thông tin là không phát sinh hoặc thấp không đáng kể.
Ảnh hưởng “tính hiệu quả của thị trường” lên giá cổ phiếu:Nếu thị trường là hiệu quả thì giá cổ phiếu sẽ biến động 1 cách hợp lý:

  • Nếu công ty lựa chọn 1 dự án với NPV > 0, các cổ đông sẽ biết điều đó và giá thị trường của cổ phiếu sẽ gia tăng để phản ánh kỳ vọng về sự tăng trưởng của cổ tức trong tương lai.
  • Nếu công ty đưa ra quyết định đầu tư không tốt, các cổ đông sẽ phát hiện ra và giá cổ phiếu sẽ giảm.
  • Nếu lãi suất tăng, các cổ đông sẽ kỳ vọng 1 mức tỷ suất lợi nhuận cao hơn từ khoản đầu tư của họ. Do vậy, giá thị trường của cổ phiếu sẽ giảm.

Phần 2. Dạng bài tập thường gặp

Phần này thường sẽ xuất hiện ở Section A và Section B của đề thi. Các dạng câu hỏi/bài tập thường gặp trong đề thi F9 của phần này bao gồm:

Dạng 1. Xác định giá trị của công cụ nợ hoặc công cụ vốn (tập trung vào redemption/convertible loan notes và shares)
Dạng 2. Định giá giá trị doanh nghiệp theo các phương pháp khác nhau
Dạng 3. Thảo luận về ưu nhược điểm của từng phương pháp định giá
Dạng 4. Vận dụng thuyết Thị trường hiệu quả để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu

Phần 3. Các lỗi sai thường gặp

Đây không phải là một phần khó của môn F9. Tuy nhiên theo báo cáo của Examiner thì có nhiều thí sinh bị mất điểm vì sai sót trong áp dụng công thức xác định giá trị giá cổ phiếu. Ví dụ như đề bài hỏi là “in-div market price” thì lại chỉ tính “ex-div market price”. Hoặc đề bài yêu cầu tính P/E ratio thì lại quên không loại trừ phần cổ tức phải chi trả cho cổ phiếu ưu đãi.

Vậy là xong 1 chủ đề nữa của môn F9. Sau bài viết này, các bạn cần trả lời được câu hỏi: “Business value là gì? Các phương pháp xác định Business Value?”. Trong bài viết tiếp theo mình sẽ giải thích về chủ đề Quản lý rủi ro. Các bạn theo dõi nhé.

Các bạn có thể tham khảo thêm bài viết của ACCA nếu vẫn chưa rõ: ACCA F9 Financial Management: Business Valuation

[ACCA F9 Video lectures] Chủ đề “The cost of capital” – Phần 2

Bài 8/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9 Financial Management – Chủ đề “The cost of capital” – Phần 2: Cách tính WACC của dự án đầu tư? Các trường hợp sử dụng WACC trong đánh giá dự án?

(Xem từ Video 4 – Video 7)

Trong phần 2 này chúng ta sẽ đi nốt các nội dung còn lại của chủ đề “The cost of capital”, bao gồm:

  • WACC là gì? Cách tính WACC của dự án đầu tư?
  • Lựa chọn chi phí sử dụng vốn phù hợp trong đánh giá dự án đầu tư
  • Các thuyết về cấu trúc vốn tối ưu
  • Các dạng bài tập thường gặp trong đề thi F9
  • Các lỗi sai thường gặp của thí sinh

Có thể bạn quan tâm: Chủ đề “The cost of capital” – Phần 1

Phần 1. 20% kiến thức trọng tâm cần học kỹ (tiếp theo)

1. WACC là gì? Cách tính WACC của dự án đầu tư

(1) WACC là gì?

Chúng ta đã học cách để tính chi phí sử dụng vốn của công cụ nợ (khoản vay) và công cụ vốn (cổ phiếu, lợi nhuận giữ lại). Tuy nhiên trong thực tế 1 công ty thường huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Do để để tính chi phí sử dụng vốn huy động cho 1 dự án, chúng ta cần xác định 1 tỷ lệ chi phí sử dụng vốn trung bình cho các nguồn vốn khác nhau. Đó chính là WACC (“Weighted average cost of capital”).

(2) Cách tính WACC của dự án đầu tư?

Công thức chung: WACC = ∑ (wi * ri)

Trong đó:

  • WACC: chi phí sử dụng vốn bình quân
  • wi: tỷ trọng của nguồn vốn i
  • ri: chi phí sử dụng vốn của nguồn vốn i

Đây chỉ là công thức chung. Tuỳ thuộc vào cơ cấu vốn của từng dự án mà cách tính WACC của dự án đầu tư sẽ phải được biến đổi cho phù hợp.

Ví dụ: Cơ cấu vốn gồm VCSH (cổ phần thường) & Vốn vay:

WACC = Ke * Ve / (Ve + Vd) + Kd * (1 – T) * Vd / (Ve + Vd)

Với:

  • Ke là chi phí sử dụng VCSH
  • Ve/(Ve + Vd) & Vd/(Ve + Vd) là tỷ lệ VCSH & tỷ lệ vốn vay trong cơ cấu vốn
  • Kd là chi phí sử dụng vốn vay trước thuế
  • T là thuế suất TNDN

Lưu ý:

(1) Nếu đề bài ghi “Tax is ignored” hoặc Kd là chi phí sử dụng vốn vay sau thuế rồi thì công thức sẽ không cần (1-T) nữa.

(2) Để tính WACC, chúng ta có thể sử dụng “Market value” hoặc “Book value”. Nhưng “Market value” luôn nên được sử dụng nếu có dữ liệu. Bởi vì mặc dù “Book value” được xác định dễ dàng nhưng “Book value” dựa trên dữ liệu quá khứ. Và do đó việc sử dụng “Book value” sẽ hạ thấp ảnh hưởng của chi phí sử dụng công cụ vốn lên WACC. Và khi đó các dự án không có lợi nhuận sẽ được lựa chọn.

(3) Khi nào công ty có thể sử dụng WACC trong đánh giá dự án đầu tư?

  • Khoản đầu tư có cùng rủi ro hoạt động (“business risk”) với công ty. Điều này có nghĩa dự án đánh giá là có quy mô nhỏ so với quy mô của công ty hiện tại.
  • Việc tài trợ vốn cho dự án đầu tư sẽ không làm thay đổi rủi ro tài chính (cơ cấu vốn) của công ty. Hay nói cách là dự án đầu tư có cùng rủi ro tài chính (“financial risk”) với công ty.

Vì WACC là tỷ suất lợi nhuận ước tính mà nhà đầu tư kỳ vọng khi cho công ty vay vốn tương ứng với các rủi ro hiện tại. Nếu 1 khoản đầu tư làm thay đổi rủi ro của công ty, thì nhà đầu tư sẽ kỳ vọng mức tỷ suất lợi nhuận khác. Do đó, công ty sẽ không thể sử dụng WACC hiện tại để đánh giá khoản đầu tư mới.

Ví dụ. 1 công ty có cấu trúc vốn như sau:

Loại nguồn vốnChi phí sử dụng vốn (k)Market Value ($m)Book Value ($m)
Equity20%102.5
Preference shares14%21
Bank loans10%22

Thuế suất TNDN là 20%. Yêu cầu: tính WACC theo Market Value và Book value.

Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế: Kd = 10% * (1 – 20%) = 8%

Công thức tính WACC tương ứng với cơ cấu vốn của công ty:

WACC = Ke * Ve/(Ve + Vp + Vd) + Kp * Vp/(Ve + Vp + Vd) + Kd *Vd/(Ve + Vp + Vd)

(Lưu ý: ở đây mình đã tính riêng Kd sau thuế rồi nên trong công thức tính không cần cho (1-T) vào nữa)

TH1. Theo Market value

WACC = 20% * $10m/$14m + 14% * $2m/$14m + 8%*$2m/$14m = 17.43%

TH2. Theo Book value

WACC = 20% * $2.5m/$5.5m + 14% * $1m/$5.5m + 8%*$2m/$5.5m = 14.55%

2. Lựa chọn chi phí sử dụng vốn nào để đánh giá dự án?

(1) Chi phí sử dụng vốn bình quân WACC

Như đề cập bên trên, WACC chỉ phù hợp trong đánh giá dự án đầu tư khi dự án không làm thay đổi rủi ro hoạt động & rủi ro tài chính hiện tại của công ty.

Tuy nhiên 2 điều kiện này không phải lúc nào cũng có thể thoả mãn. Trong thực tế:

  • Các dự án đầu tư có quy mô lớn hoặc có ngành nghề kinh doanh khác với công ty hiện tại. Nên sẽ làm thay đổi rủi ro kinh doanh của công ty.
  • Nguồn vốn công ty huy động để tài trợ cho dự án thông thường sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn hiện tại của công ty. Và do đó rủi ro tài chính sẽ thay đổi.
  • Ngoài ra, các khoản vay với lãi suất thả nổi có lãi suất biến động sẽ khó có thể phản ánh trong WACC. Nên phải sử dụng lãi suất của 1 khoản vay cố định tương đương => Không chính xác.

Để khắc phục các nhươc điểm này của WACC trong đánh giá dự án đầu tư, chúng ta cần sử dụng chi phí sử dụng vốn tính riêng cho dự án (“project-specific cost of capital”). Chi phí này có thể được tính theo 2 cách dưới đây.

(2) Chi phí sử dụng VCSH theo mô hình CAPM

Mô hình CAPM tính chi phí sử dụng vốn của cổ phiếu bằng cách dựa trên rủi ro hệ thống với tỷ suất lợi nhuận chung của thị trường. Với giả định rằng rủi ro phi hệ thống sẽ được các nhà đầu tư tự giảm thiểu bằng cách đa dạng hoá danh mục.

Mô hình CAPM đã được giải thích ở bài viết phần 1 của chủ đề. Các bạn xem lại nếu không nhớ nhé.

Điều kiện áp dụng?

Khi dự án có cùng rủi ro tài chính nhưng có rủi ro kinh doanh khác với công ty hiện tại

(3) Chi phí sử dụng vốn bằng cách sử dụng “geared betas” theo mô hình CAPM và thuyết MM

Điều kiện áp dụng? 

Khi dự án có rủi ro tài chính & rủi ro kinh doanh khác với công ty hiện tại

Cơ sở lý luận?

Mô hình CAPM: tính ra chi phí sử dụng vốn chủ sỡ hữu (“the cost of equity”). Rủi ro tài chính (đo lường bằng hệ số nợ “Gearing”) sẽ ảnh hưởng đến chi phí sử dụng VCSH. 1 công ty với nguồn vốn chủ sở hữu đơn thuần sẽ có rủi ro < rủi co của công ty có nguồn vốn gồm cả VCSH và nợ vay. Như vậy, hệ số bê-ta đo lường rủi ro hệ thống của công ty sử dụng nợ vay > hệ số bê-ta của công ty không sử dụng nợ vay.

Thuyết MM (Modigliani & Miller): khi hệ số nợ “gearing” tăng, chi phí sử dụng VCSH sẽ tăng để bù đắp cho rủi ro tài chính mà cổ đông nắm giữ cổ phiếu phải gánh chịu.

Kết hợp mô hình CAPM và thuyết MM:

Chúng ta sẽ tính được chi phí sử dụng VCSH (Ke) riêng cho dự án bằng cách sử dụng hệ số bê-ta của 1 doanh nghiệp cùng ngành & hệ số nợ hiện tại của công ty.

Ví dụ. 

1 công ty có các thông tin hiện tại như sau:

  • Hệ số Gearing (debt/equity) là 2/4
  • Các khoản vay được giả định là không có rủi ro. Lãi suất trước thuế là 10% pa
  • Hệ số bê-ta của nguồn VCSH của công ty là 1.2
  • Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng trên thị trường là 15%

Công ty đang cân nhắc đầu tư vào 1 dự án thuộc lĩnh vực hoàn toàn mới có các thông tin sau:

  • Hệ số bê-ta trung bình: 1.5
  • Hệ số gearing (debt/equity) trung bình: 1/3
  • Thuế suất: 20%

Công ty nên sử dụng chi phí sử dụng vốn nào để đánh giá dự án này?

Đáp án.

Dự án đang xem xét có:

  • Hệ số gearing khác với công ty hiện tại => Rủi ro tài chính khác với công ty hiện tại
  • Dự án thuộc lĩnh vực hoàn toàn mới => Rủi ro kinh doanh khác với công ty hiện tại

Công ty không thể sử dụng WACC hay chi phí sử dụng vốn tính theo mô hình CAPM để đánh giá dự án. Công ty phải sử dụng chi phí sử dụng vốn tính theo mô hình CAPM và thuyết MM.

Bước 1. Sử dụng hệ số bê-ta của ngành/dự án mới để tính ra hệ số bê-ta cho 1 công ty chỉ sử dụng VCSH – không có nợ vay. Hệ số này được gọi là un-geared beta hay asset beta (βa).

Công thức: βa = βe * Ve/[Ve + Vd*(1-T)]

βa = 1.5 * 3/[3 + 1 * (1-20%)] = 1.18

Bước 2. Sử dụng βa (un-geared beta) để tính ra hệ số bê-ta mới cho công ty hiện tại

Công thức: βe = βa * [Ve + Vd*(1-T)]/ Ve

βe = 1.18 * [4 + 2 * (1-20%)]/4 = 1.65

Bước 3. Tính ra chi phí sử dụng VCSH Ke cho dự án đang đánh giá bằng cách sử dụng mô hình CAPM

Ke = Rf + β * (Erm – Rf) = 10% + 1.65 * (15% – 10%) = 18.25%

Bước 4. Tính ra chi phí sử dụng vốn riêng cho dự án bằng công thức WACC

WACC =  Ke * Ve / (Ve + Vd) + Kd * (1 – T) * Vd / (Ve + Vd)

WACC = 18.25% * 4/6 + 10%*(1-20%)*2/6 = 14.83%

Hạn chế của việc sử dụng mô hình này?

  • Khó khăn để tìm ra các công ty với các đặc điểm hoạt động phù hợp với dự án đang được đánh giá
  • Ước tính giá trị beta từ thông tin về giá cổ phiếu không hoàn toàn chính xác. Thông tin này cũng là thông tin trong quá khứ. Và việc sử dụng thông tin của 1 công ty khác để ước tính thông tin sử dụng cho dự án có thể dẫn đến sai lệch.
  • Có thể có sự khác biệt trong giá trị bê-ta giữa các công ty do sự khác nhau về cơ cấu vốn, quy mô,rủi ro của khoản vay
  • Giả định các khoản vay hoàn tòan không có rủi ro là không thực tế
  • Nếu như công ty đang có các cơ hội tăng trưởng được nhà đầu tư ghi nhận. Thì các cơ hội này sẽ ảnh hưởng lên Ke. Do đó, việc sử dụng hệ số bêta của các công ty khác để ước tính hệ số bê-ta cho công ty sẽ không phản ánh được các cơ hội đầu tư này.

3. Các thuyết về cấu trúc vốn tối ưu (“The optimal capital structure”)

Các công ty sẽ luôn tìm cách để tối thiểu chi phí sử dụng vốn. Mà chi phí sử dụng vốn sẽ thay đổi khi cơ cấu vốn của công ty thay đổi.

Vậy, 1 công ty sẽ có thể thay đổi cơ cấu vốn như nào để tối thiểu chi phí sử dụng vốn?

Có rất nhiều quan điểm trả lời câu hỏi này.

(1) Quan điểm truyền thống:

  • Kd sẽ duy trì không đổi cho đến khi gearing tăng vượt qua 1 mức độ nhất định
  • Ke tăng khi gearing tăng & rủi ro tài chính tăng lên. Có mối quan hệ phi tuyến tính giữa Ke & gearing
  • WACC sẽ không giữ nguyên mà hơi giảm nhẹ khi gearing mới tăng lên. Và sẽ tăng lên khi gearing vượt qua mức tối ưu (“the optimum level”)
  • Có 1 cơ cấu vốn kết hợp giữa vốn vay & VCSH mà tại đó WACC được tối thiểu.
(2) Quan điểm của MM (Giả định thuế không có ảnh hưởng): cho rằng WACC của công ty không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong cơ cấu vốn.

MM giả định rằng tồn tại 1 thị trường vốn hoàn hảo. Nghĩa là:

  • Các nhà đầu tư có cùng nguồn thông tin & luôn đưa ra các quyết định hợp lý, có cùng kỳ vọng về rủi ro & lợi nhuận
  • Không có thuế, không phát sinh chi phí giao dịch
  • Các khoản vay là hoàn toàn không có rủi ro

Sau này, MM đã chấp nhận rằng thuế có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn & WACC. Nhưng không như quan điểm truyền thống, MM cho rằng công ty nên xây dựng cơ cấu vốn hoàn toàn bằng nợ vay. Điều này là hoàn toàn không thực tế.

(3) Quan điểm Pecking order theory: cho rằng công ty sẽ không cần cố gắng tìm cách để tối thiểu WACC. Thay vào đó, công ty sẽ huy động vốn theo 1 thứ tự ưu tiên giảm dần như sau:

  • Retained Earnings
  • Straight debts
  • Convertible debts
  • Preference shares
  • Ordinary shares

Quan điểm này có hạn chế là không xem xét đến ảnh hưởng của thuế, chi phí giao dịch hoặc các cơ hội đầu tư. Và thuyết này thực chất là lời giải thích cho những việc doanh nghiệp sẽ làm thay vì những gì nên làm.

Phần 2. Các dạng bài tập thường gặp trong đề thi F9

Các dạng câu hỏi/bài tập thường gặp trong đề thi F9 của chủ đề này bao gồm:

Dạng 1. Cách tính WACC của dự án đầu tư (theo Book value & Market value) và thảo luận các trường hợp nên sử dụng WACC trong đánh giá  dự án đầu tư
Dạng 2. Đánh giá ảnh hưởng của việc huy động vốn lên tình hình tài chính và rủi ro của công ty
Dạng 3. Đánh gía ảnh hưởng của việc phát hành Rights issue để thanh toán (redeem) Bond/Loan notes
Dạng 4. Thảo luận về cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp
Dạng 5. Thảo luận các nhân tố cần được xem xét khi huy động vốn
Dạng 6. Tính toán chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu bằng mô hình CAPM. Và thảo luận về việc sử dụng CAPM trong đánh giá dự án đầu tư

Phần 3. Các lỗi sai thường gặp

Theo báo cáo của Examiner thì trong phần này, thí sinh thường gặp một số lỗi sai chung như:

(1) Tính sai chi phí sử dụng vốn vay, chi phí sử dụng VCSH hoặc WACC. Nguyên nhân là do áp dụng máy móc công thức mà không hiểu bản chất nên lắp sai thông tin cần thiết.
(2) Không trình bày được công ty nên lựa chọn huy động vốn từ nguồn nào
(3) Không giải thích được các thuyết về cấu trúc/cơ cấu vốn sẽ ảnh hưởng đến quyết định huy động vốn của công ty như thế nào
(4) Nhiều ứng viên không biết khi nào nên sử dụng WACC, khi nào nên sử dụng CAPM trong đánh giá dự án đầu tư

[ACCA F9 Video Lectures] Chủ đề “The cost of capital” – Phần 1

Bài viết 7/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9 Financial Management – Chủ đề “The cost of capital” – Phần 1: Cost of capital là gì? Phương pháp tính?

(Xem từ Video 1 – Video 3)

Quyết định huy động vốn (Finance decisions) là 1 trong 4 quyết định thuộc chức năng của Quản lý tài chính. Sau khi quyết định lựa chọn dự án đầu tư thì sẽ cần phải quyết định huy động vốn từ nguồn nào để tài trợ cho dự án. Cơ sở để ra quyết định chính là so sánh “Chi phí sử dụng vốn” (“The cost of capital”) giữa các nguồn vốn. Đó là lý do tại sao chúng ta phải học về chủ đề này trong môn F9.

Có thể bạn quan tâm: F9 – Dạng bài lựa chọn dự án đầu tư

Phần 1. 20% kiến thức trọng tâm cần học kỹ

Phần kiến thức này thuộc Chương 14 – Chương 16 trong sách F9 của BPP. Vì lý thuyết của phần này rất dài và sách BPP viết khá lan man nên thường gây bối rối cho nhiều bạn. Chúng ta nên tiếp cận chủ đề này bằng cách trả lời 4 câu hỏi sau:

Q1. Cost of capital là gì? Các phương pháp tính “Cost of capital”?
Q2. Cách tính ra chi phí sử dụng vốn của nhiều nguồn vốn kết hợp (WACC)?
Q3. Doanh nghiệp nên xây dựng cấu trúc vốn huy động như nào cho tối ưu nhất?
Q4. Chi phí sử dụng vốn được sử dụng như tỷ lệ chiết khấu trong đánh giá dự án đầu tư. Nhưng 1 công ty có nhiều loại chi phí sử dụng vốn tương ứng với từng nguồn vốn. Vậy nên sử dụng chi phí sử dụng vốn nào để đánh giá dự án đầu tư?

1. Cost of capital là gì? Cách phương pháp tính chi phí sử dụng vốn của từng nguốn vốn?

(1) Cost of capital là gì?

“Cost of capital” tạm dịch là chi phí sử dụng vốn. Đây chính là tỷ suất lợi nhuận mà công ty phải trả cho nhà đầu tư để họ cho công ty sử dụng vốn. Do đó có 2 khía cạnh của chi phí sử dụng vốn chúng ta cần biết:

  • Là chi phí để huy động vốn cho công ty
  • Là tỷ suất lợi nhuận tối thiểu mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được khi nhà đầu tư cho công ty vay vốn. Hay nói cách khác, chi phí sử dụng vốn chính là chi phí cơ hội để nhà đầu tư không đầu tư vào chỗ khác.

Chi phí sử dụng vốn = Risk-free rate of return + Premium for business risk + Premium for financial risk

Trong đó:

  • Risk-free rate of return: là phần lợi nhuận nhà đầu tư nhận được khi khoản đầu tư không có rủi ro
  • Premium for business risk: là phần lợi nhuận nhà đầu tư sẽ yêu cầu thêm để bù đắp cho sự rủi ro & không chắc chắn trong tương lai liên quan đến triển vọng kinh doanh của công ty.
  • Premium for financial risk: là phần lợi nhuận nhà đầu tư yêu cầu thêm để bù đắp cho rủi ro tài chính của công ty. 1 công ty có hệ số nợ cao sẽ có rủi ro tài chính càng lớn.

Công ty có rủi ro kinh doanh & rủi ro tài chính càng cao thì sẽ có chi phí sử dụng vốn càng lớn. Do vậy, chúng ta có thể sắp xếp chi phí sử dụng vốn của các nguồn huy động vốn khác nhau theo thứ tự như sau:

Loan with fixed interest < Loan with floating interest < Unsecured loan < Preference shares < Ordinary shares

(Thứ tự rủi ro tăng dần – chi phí sử dụng vốn tăng dần này được gọi là “Creditor hierarchy”)

(2) Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu (“The cost of equity”)

Công ty có thể huy động vốn từ nguồn vốn CSH bằng cách phát hành cổ phiếu mới hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại. Và cả 2 nguồn này đều có chi phí sử dụng vốn.

Chi phí sử dụng vốn có thể được xác định bằng 3 mô hình khác nhau:

  • Mô hình Dividend Valuation Model
  • Mô hình Dividend Growth Model
  • Mô hình CAPM
Mô hình Dividend Valuation Model

Giả định:

  • Giá trị thị trường của cổ phiếu có liên quan trực tiếp đến cổ tức kỳ vọng trong tương lai của cổ phiếu.
  • Cổ tức tương lai của cổ phiếu là không đổi

Công thức: Ke = d / Po

Trong đó:

  • Ke: chi phí sử dụng vốn
  • d: cổ tức hàng năm của cổ phiếu
  • Po: giá trị thị trường của cổ phiếu không bao gồm quyền nhận cổ tức sắp được chi trả (Ex-div market value)
Mô hình Dividend Growth Model

Giả định:

  • Giá trị thị trường của cổ phiếu có liên quan trực tiếp đến cổ tức kỳ vọng trong tương lai của cổ phiếu.
  • Cổ tức tương lai của cổ phiếu tăng trưởng qua các năm theo 1 tỷ lệ không đổi

Công thức: Ke = [do * (1+g) / Po] + g

Trong đó:

  • Ke: chi phí sử dụng vốn
  • do: cổ tức năm hiện tại/cổ phiếu
  • g: là tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của cổ tức (*)
  • Po: giá trị thị trường của cổ phiếu không bao gồm quyền nhận cổ tức sắp được chi trả (Ex-div market value)

(*) Cách xác định tỷ lệ tăng trưởng g

Có 2 cách:

Cách 1: ước tính tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức dựa vào số liệu quá khứ.

Công ty có thông tin về cổ tức chi trả qua 3 năm như sau:

  • Năm 20X1: $1m
  • Năm 20X2: $1.2m
  • Năm 20X3: $1.5m

Ta có: G(20X3) = $1m * (1 + g)^2 = $1.5m => (1+g)^2 = 1.5 => g = √1.5 – 1 = 22.47%

Cách 2: sử dụng mô hình Gordon: g = b * r 

Trong đó:

  • g là tỷ lệ tăng trưởng cổ tức
  • b là tỷ trọng lợi nhuận được giữ lại thay vì trả cổ tức
  • r là tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của khoản đầu tư
Mô hình CAPM

Mô hình này liên quan đến việc đo lường “rủi ro hệ thống” của khoản đầu tư và xác định tỷ suất lợi nhuận nhà đầu tư yêu cầu để bù đắp cho rủi ro của công ty.

Lưu ý:

Khi công ty đầu tư vào thị trường, khoản đầu tư sẽ phát sinh 2 loại rủi ro:

  • Rủi ro hệ thống (“Systematic risk” hay “Market risk”): là rủi ro tiềm tàng liên quan đến sự biến động của toàn bộ thị trường. Đây là rủi ro co công ty sẽ không thể giảm thiểu được bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư của mình.
  • Rủi ro phi hệ thống (“Unsystematic risk”): là rủi ro riêng biệt của từng khoản đầu tư riêng biệt. Do vậy, có thể giảm thiểu bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư

Giả định:

  • Rủi ro hệ thống không thể được triệt tiêu & Rủi ro phi hệ thống sẽ có thể triệt tiêu bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư. Do đó, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi công ty phải chi trả lợi nhuận bù đắp cho rủi ro hệ thống & sẽ không yêu cầu công ty chi trả lợi nhuận bù đắp cho rủi ro phi hệ thống.
  • Có mối liên hệ giữa tỷ suất lợi nhuận của 1 khoản đầu tư và tỷ suất lợi nhuận của thị trường
  • Thị trường đầu tư là hoàn hảo. Sẽ không phát sinh chi phí giao dịch.

Công thức: E (ri) = Rf + (Erm – Rf) * βi

  • E(ri): chi phí sử dụng VCSH – Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư khi mua cổ phiếu
  • Rf: “risk-free rate of return”
  • Erm: tỷ suất lợi nhuận trung bình của thị trường
  • Erm – Rf: tỷ suất lợi nhuận nhà đầu tư kỳ vọng nhận được để bù đắp cho rủi ro kinh doanh & rủi ro tài chính của khoản đầu tư
  • βi: hệ số bê-ta đo lường rủi ro hệ thống của khoản đầu tư. β càng cao thì khoản đầu tư càng nhạy cảm với sự biến động trên thị trường.

(3) Chi phí sử dụng vốn vay (“The cost of debt capital”)

Chi phí sử dụng vốn vay là tỷ suất lợi nhuận công ty phải trả cho các chủ nợ để có thể huy động vốn vay.

Các khoản vay có thể được chia thành 2 loại. Và mỗi loại này sẽ có cách xác định chi phí sử dụng vốn khác nhau.

Irredeemable debt

Là khoản nợ vay trả lãi định kỳ nhưng không có ngày đáo hạn (trả gốc) cụ thể. Có tên gọi khác là “perpetuity debt”.

Số tiền lãi trả hàng kỳ chính là dòng tiền đều vô hạn (“perpetuity”). Do đó chúng ta có thể vận dụng công thức tính PV của dòng tiền đều vô hạn để xác định chi phí sử dụng vốn của loại nợ vay này.

Công thức: Po = i * (1 – T)/ Kd hay Kd = i * (1 – T)/ Po

Trong đó:

  • Kd: chi phí sử dụng vốn vay
  • Po: giá trị hiện tại không bao gồm tiền lãi của khoản vay (ex-interest debt)
  • i: tiền lãi đều hàng kỳ trước thuế
  • T: % thuế

Lưu ý: 

Chi phí lãi vay sẽ được khấu trừ cho mục đích thuế sẽ được khấu trừ cho mục đích thuế. Trong khi cổ tức của cổ phiếu thì không. Do vậy, để công bằng khi so sánh chi phí sử dụng vốn của các nguồn vốn, chúng ta cần bao gồm ảnh hưởng của thuế lên chi phí sử dụng vốn vay.

Nếu đề bài ghi “tax is ignored” hoặc tiền lãi (i) trả hàng kỳ đã là số sau thuế rồi thì bạn phải bỏ (1 – T) khỏi công thức bên trên.

Redeemable debt

Là các khoản vay mà lãi suất được chi trả định kỳ cho đến khi khoản vay đáo hạn (tiền gốc được hoàn trả).

Giá trị hiện tại của 1 khoản vay với thời hạn n năm & tiền lãi hàng năm là i sẽ được xác định:

Po = i/(1+kd)^1 + i/(1+kd)^2 + …. + i/(1+kd)^n + D/(1+kd)^n

Để xác định Kd, chúng ta phải giải phương trình này. Cách làm: sử dụng phương pháp tính IRR (trial & error).

Các trường hợp đặc biệt

Ngoài 2 nhóm nợ vay trên, chúng ta cần xem xét 3 trường hợp đặc biệt:

(i) Khoản vay với lãi suất thả nổi (“Loan with floating interest”)

Trong phạm vi môn F9, chúng ta sẽ sử dụng tỷ lệ chiết khấu (chi phí sử dụng vốn) của 1 khoản vay cố định “tương đương”. Tương đương được hiểu là có cùng thời gian đáo hạn.

(ii) Khoản vay có thể chuyển đổi (“Convertible debt”)

Là các công cụ nợ mà có thể được chuyển đổi sang cổ phiếu sau 1 thời gian nhất định với 1 tỷ lệ chuyển đổi nhất định. Ví dụ như trái phiếu chuyển đổi “convertible bond”

Trường hợp này, việc xác định chi phí sử dụng vốn sẽ phụ thuộc vào “khả năng chuyển đổi” của công cụ này.

  • Khi việc chuyển đổi không có khả năng diễn ra: giá trị chuyển đổi sẽ không được xem xét đến. Và công cụ nợ sẽ được xem xét giống như “redeemable debt”. Và chi phí sử dụng vốn sẽ được xác định theo cách tính IRR.
  • Khi việc chuyển đổi có khả năng diễn ra: vẫn sẽ sử dụng phương pháp tính IRR nhưng:

Số năm đáo hạn “redemption time” = Số năm để chuyển đổi “conversion time”

Giá trị đáo hạn “redemption value” = Giá trị chuyển đổi “conversion value”

(iii) Cổ phiếu ưu đãi (“Preference Shares”)

  • Là các cổ phiếu được nhận cổ tức theo tỷ lệ cố định hàng năm. Nên cổ tức của cổ phiếu này sẽ là 1 dòng tiền đều vô hạn.
  • Chúng ta có thể thấy là công thức tính tương tự như “irredeemable debt”. Nhưng vì cổ tức của cổ phiếu ưu đãi không được trừ cho mục đích thuế. Do vậy, chúng ta sẽ không bao gồm ảnh hưởng của thuế trong công thức tính: K(pref) = d / Po

Vậy là xong. Các bạn xem Video để xem ví dụ về các phương pháp tính chi phí sử dụng vốn (“The cost of capital”) nhé. Trong bài viết tiếp theo mình sẽ đi giải thích nốt các nội dung còn lại của chủ đề này.

Nếu còn chưa rõ bạn có thể tham khảo thêm bài viết của ACCA về chủ đề này: Chi phí sử dụng vốn

[ACCA F9 Video Lecture] Chủ đề “Working capital Management” – Phần 2

Bài viết 3/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9 Financial Management – Chủ đề “Working capital management” – Phần 2: “Cash management là gì? Receivables management là gì?”

(Xem từ Video 8 – Video 14)

Nếu bạn thích đọc hơn thì bài viết này là dành cho bạn.

Tiếp theo bài ACCA F9 Financial Management: Working capital management (Part 1), chúng ta hãy cùng làm rõ các nội dung còn lại của chủ đề Working capital Management – Phần C (Chương 4 – Chương 6) sách BPP. Bao gồm:

  • Cash management là gì? 2 mô hình sử dụng trong quản lý tiền?
  • Receivable management là gì? Các nguyên tắc áp dụng trong quản lý khoản phải thu?
  • Các dạng câu hỏi/bài tập thường gặp
  • Các lỗi sai thường gặp

1. Cash management là gì? Các mô hình áp dụng?

Cash management là gì?

“Cash management” tạm dịch là quản lý tiền trong doanh nghiệp. Thì chúng ta cần hiểu thế này: cũng như hàng tồn kho, việc nắm giữ tiền thay vì đầu tư vào tài sản khác cũng sẽ phát sinh chi phí. Đó chính là: chi phí cơ hội bị mất đi khi công ty không sử dụng tiền để đầu tư kiếm lời. Hoặc vì dự trữ ít tiền quá nên lúc cần đầu tư lại không có tiền và bỏ lỡ cơ hội đầu tư.

Do vậy, nhà quản lý tài chính sẽ phải tính ra mức dự trữ tiền tối ưu cho công ty. Hay nói cách khác là nhà quản lý tài chính sẽ phải có chính sách quản lý tiền phù hợp.

2 mô hình trong “Cash management”

Để tính ra mức tiền tối ưu, trong phạm vi môn F9 – Financial Management chúng ta sẽ học 2 mô hình

(1) Baumol Model

Giả định: tiền được sử dụng ổn định theo thời gian và công ty nắm giữ 1 lượng chứng khoán có thể bán để thu tiền về khi cần.

Nguyên lý:

Việc xác định số dư tiền tối ưu sẽ tương tự như xác định mức hàng tồn kho tối ưu.

  • Chi phí dự trữ tiền (Holding cost): chi phí cơ hội bị mất do không đầu tư tiền.
  • Chi phí đặt hàng (Ordering cost): chi phí hành chính phát sinh khi bán chứng khoán để thu tiền về.

Như vậy, mức dự trữ tiền tối ưu để tối thiểu chi phí là: Q = √(2*Co*S / i )

Trong đó:

  • Q: số dư tiền tối ưu cần nắm giữ
  • C: chi phí để bán chứng khoán thu tiền về (Ordering cost)
  • S: số lượng tiền cần sử dụng trong kỳ
  • i: chi phí nắm giữ tiền (Holding cost) %

Ví dụ: Công ty phải phát sinh chi phí $1,000 để bán chứng khoán thu tiền về. Và cần $10,000 tiền mặt cho mỗi năm. Lãi suất tiền gửi hiện tại là 10% pa.

Số tiền nên dự trữ:  Q = √(2*$1,000*$10,000/10%) = $14,142

(Nếu nhu cầu tiền là hàng tháng thì cần tính holding cost theo %/tháng nha)

Nhược điểm: 

Mô hình này có 1 số nhược điểm sau:

  • Trong thực tế gần như không thể dự đoán 1 cách chắc chắn số tiền cần dùng trong kỳ.
  • Mô hình này không xem xét mức dự trữ tối thiểu (Minimum/Buffer inventory level)
  • Việc dự trữ tiền có thể phát sinh nhiều chi phí khác chứ không chỉ là chi phí cơ hội.
(2) Mô hình Miller Orr

Mô hình Miller Orr là 1 trong các mô hình được xây dựng nhằm khắc phục nhược điểm của mô hình Baumol.

Giả định: Các dòng tiền ra/vào của doanh nghiệp là hoàn toàn không dự đoán được. Do vậy, chỉ có thể quản lý tiền theo phạm vi biến động (“spread”).

Nguyên lý: Mô hình Miller Orr có mục tiêu dự trữ tiền sao cho không vượt qua mức giới hạn cho phép.

Nếu số dư tiền chạm mức Giới hạn trên (“upper limit”), công ty sẽ sử dụng tiền để mua chứng khoán nhằm làm giảm số dư tiền về mức thông thường (“return point”).

Nếu số dư tiền chạm mức Giới hạn dưới (“lower limit”), công ty sẽ bán chứng khoán thu tiền về để tăng số dư tiền về mức thông thường (“return point”).

Công thức xác định “return point” và phạm vi biến động của số dư tiền (spread = upper limit – lower limit)

Rp = Lower limit + spread/3

Spread = 3 * [ 3/4 * Transaction costs * Variance of cash / Interest rate ] ^ (1/3)

Lưu ý:

Transaction costs (Chi phí phát sinh để mua bán chứng khoán) / ngày

Variance of cash (Biến động của số dư tiền) / ngày

Ưu điểm: Mô hình Miller Orr tiết kiệm thời gian quản lý, không cần phải tốn nhiều thời gian để dự đoán dòng tiền giống như mô hình Baumol.

Nhược điểm: Mô hình Miller Orr dựa vào giả định không thực tế. Với những doanh nghiệp kinh doanh thời vụ sẽ hoàn toàn có thể dự đoán được dòng tiền ra/vào.

2. Quản lý khoản phải thu

Yêu cầu của ACCA đối với thí sinh về topic này là phải có khả năng thảo luận, đánh giá và áp dụng các kỹ thuật khác nhau trong quản lý Khoản phải thu (AR).

Và trong chủ đề này chúng ta sẽ đi tìm hiểu các phương pháp quản lý AR nói chung. Sau đó sẽ đến các khoản phải thu bằng ngoại tệ.

3 yêu cầu/nội dung trong quản lý Khoản phải thu (AR)

(1) Đánh giá khả năng/tình trạng tín dụng của khách hàng (credit worthiness)

Công ty có thể sử dụng các phương pháp sau:

  • Thu thập Thư giới thiệu từ Ngân hàng (Bank reference) của khách hàng. Tuy nhiên cần lưu ý là Bank reference sẽ không thể hiện những vấn đề như lo sợ của Ngân hàng về khách hàng…
  • Thu thập Thư giới thiệu từ Đối tác làm ăn với khách hàng (Trade reference). Sẽ không dễ dàng để thu thập được Trade reference. Nhưng công ty có thể gọi điện hoặc hẹn gặp để trao đổi.
  • Mua thông tin từ các trung gian tài chính, các đơn vị chuyên nghiệp cung cấp thông tin (Credit rating agency)
  • Phân tích thông tin về BCTC niêm yết được công bố công khai của khách hàng. Tuy nhiên nên lưu ý là số liệu trên BCTC có thể đã bị bóp méo.
  • Thông tin từ các kênh truyền thông
  • Đến thăm khách hàng trực tiếp ở văn phòng của họ để thảo luận chi tiết. Biện pháp này thường phát huy tác dụng tốt vì các chủ Doanh nghiệp sẽ có khả năng đánh giá cảm nhận tốt về đối tác của mình.

(2) Xây dựng các chính sách, điều khoản tín dụng cho khách hàng và quản lý AR

Sau khi đã quyết định cấp tín dụng (“credit”) cho 1 khách hàng:

  • Công ty cần giải thích rõ về hạn mức tín dụng, mức lãi suất phạt… cho khách hàng.
  • Ban đầu, hạn mức tín dụng phù hợp nên được quy định riêng cho từng khách hàng tuỳ theo đánh giá của công ty về khách hàng đó.
  • Mọi hành vi không tuân thủ hạn mức của khách hàng cần được tìm hiểu & làm rõ.
  • Các khoản phải thu nên được kiểm soát liên tục. Công ty có thể sử dụng các loại báo cáo sau: báo cáo phân tích tuổi nợ (“Aging analysis”); Báo cáo tình trạng sử dụng hạn mức tín dụng (“Credit utilisation report”)

(3) Thu nợ/Thu tiền

Thực tế thì đây là 1 khâu nhạy cảm, phức tạp và đòi hỏi nhiều kỹ năng.

Để đòi được tiền trước bạn phải gửi hoá đơn cho khách hàng nhanh chóng & chính xác.

Sau đó công ty có thể gửi Sau kê hàng tháng (“monthly statements”), Thư đòi nợ (“Chasing letters”) hoặc gọi điện đến người phụ trách của khách hàng.

Ngoài ra, có thể sử dụng mối quan hệ cá nhân với người phụ trách bên khách hàng.

Sau đó, nếu tất cả đều không có tác dụng thì có thể quyết định ngừng cung ứng dịch vụ, hàng hoá cho khách hàng. Tuy nhiên cần cẩn trọng với quyết định này.

Và biên pháp cuối cùng đó là kiện ra toà. Biện pháp này sẽ tốn kém & mất khách hàng.

Một số biện pháp khuyến khích khách hàng trả nợ sớm

(1)Factoring“Factor” là gì?

Là công ty chuyên nghiệp – cung cấp dịch vụ hỗ trợ trong đánh giá tín dụng, quản lý khoản phải thu, thu nợ. Họ có thể mua lại các hoá đơn phải thu (invoice) ở mức giá chiết khấu tính trên giá trị hoá đơn.

Ưu điểm của phương pháp Factoring?

  • Công ty có thể nhận được tiền sớm & giải quyết vấn đề thiếu hụt tiền mặt
  • Quản lý của công ty không cần mất thời gian để xử lý khoản phải thu quá hạn
  • Công ty không cần mất chi phí để duy trì 1 bộ phận quản lý doanh thu vì “Factor” sẽ có chuyên gia để xử lý
  • Factor mua lại khoản phải thu, nên thực chất họ sẽ gánh chịu rủi ro nợ xấu cho công ty
(2) Early settlement discount

Hiểu đơn giản thì là cho khách hàng hưởng “Chiết khấu thanh toán” nếu họ thanh toán sớm. Để quyết định xem có nên dùng biện pháp này hay không, chúng ta sẽ cần phải so sánh chi phí & lợi ích khi công ty đề xuất chiết khấu cho khách hàng.

Nhược điểm của phương pháp này là: khi nó phát huy tác dụng hấp dẫn khách hàng, thì cũng sẽ tốn kém chi phí cho công ty.

Ví dụ. Công ty có 1 khoản phải thu $100,000. Công ty cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng là 45 ngày. Nhưng khách hàng thường thanh toán sau 60 ngày. Công ty đang cân nhắc đề xuất 2% Discount nếu họ thanh toán trong vòng 15 ngày. Biết rằng công ty đang tài trợ cho nhu cầu kinh doanh hàng ngày bằng hình thức thấu chi (“Overdraft”) với chi phí là 10% pa. Công ty có nên đề xuất chương trình chiết khấu này cho khách hàng không?

Nếu khách hàng chấp nhận “Discount Offer”:

Chi phí của discount offer: $100,000 * 2% = $2,000

Vì Công ty sẽ nhận được tiền trong 15 ngày. Đồng nghĩa với việc công ty không cần vay vốn để phục vụ cho HĐKD trong: 60 ngày – 15 ngày = 45 ngày.

Như vậy, số tiền “chi phí lãi vay” công ty có thể tiết kiệm: $100,000 * 10% * 45/360 = $1,250

Kết luận: chi phí của đề xuất chiết khấu ($2,000) > lợi ích của đề xuất chiết khấu ($1,250). Công ty không nên đề xuất chiết khấu cho khách hàng.

Lưu ý:

Với khoản phải thu, chúng ta đang xem xét từ góc độ chúng ta là người bán. Sẽ có trường hợp chúng ta phải ở vai trò người mua – cần quyết định xem có nên chấp nhận chiết khấu từ người bán không. Cách làm hoàn toàn tương tự nhau.

Chi phí của người mua khi từ chối discount offer = Chi phí của nhà cung cấp khi offer discount.

Quản lý khoản phải thu ngoại tệ (Foreign AR)

Việc quản lý khoản phải thu ngoại tệ cũng cần đảm bảo 3 nội dung tương tự như quản lý khoản phải thu. Tuy nhiên, các khoản phải thu ngoại tệ sẽ có nhiều rủi ro hơn khoản phải thu trong nước.Rủi ro trong quản lý Khoản phải thu ngoại tệ

Khi bạn xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài, bạn sẽ phải đối mặt với các rủi ro:

  • Tồn đọng lượng vốn đầu tư lớn trong Hàng tồn kho và AR
  • Nợ xấu phát sinh do thời gian vận chuyển để gửi hàng hoá cho khách hàng & các công việc giấy tờ liên quan

Các phương pháp giảm thiểu rủi ro

ACCA có 1 bài viết cực chi tiết cho các phương pháp này. Nên mình không note lại nữa. Các bạn tham khảo bài viết trên website của ACCA: F9 Notes – Foreign Account Receivables  hoặc xem Video tương ứng nhé.

3. Các dạng câu hỏi/bài tập thường gặp

1 bài tập ở Section C thường gồm cả yêu cầu tính toán và câu hỏi lý thuyết. Qua thống kê đề thi các năm thì các dạng câu hỏi lý thuyết và bài tập thường gặp của topic này là:

Các dạng câu hỏi lý thuyết:

  • Quản lý khoản phải thu: thảo luận cách quản lý và hạn chế rủi ro trong quản lý khoản phải thu ngoại tệ; cách cải thiện quản lý; các kỹ thuật/phương pháp có thể sử dụng trong quản lý khoản phải thu; các yếu tố quan trọng trong chính sách quản lý khoản phải thu.
  • Chính sách đầu tư/hoặc tài trợ vốn lưu động (working capital financing policy or working capital investment policy): phân tích và thảo luận về chính sách đầu tư/tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp được đề cập trong tình huống.

Các dạng bài tập:

(1) Tính toán cash operating cycle, working capital cycle (VD: đề thi June/13; June/14; Mar-June/17)
(2) Tính toán các chỉ tiêu thanh khoản (liquidity ratio) (VD: đề thi June/14; Dec/14; Mar-June/17)
(3) Đánh giá xem công ty có nên chấp nhận/đề xuất early settlement discount không? (VD: Đề thi Dec/10; June-Dec/15; Sep/16)
(4) Tính toán forecast (cash balance, overdraft…) (VD: đề thi Dec/09; June/10; Dec/14; Mar-Jun/17)
(5) Xác định số lượng tối ưu (invetory/cash) để đặt mua/nắm giữ theo các mô hình quản lý EOQ, JIT, Baumol, Miller Orr (VD: đề thi Dec/10; Dec/14; Sep/16; June/12; Mar-June/16)

4. Các lỗi sai thường gặp

  • Xác định sai yêu cầu của câu hỏi

Như mình đã đề cập trong bài 3 bước tự học F9 Financial Management, examiner đã nhấn mạnh trong các báo cáo hàng kỳ của họ rằng thí sinh thường xác định sai yêu cầu của đề bài. Do đó dù trả lời rất dài vẫn không được điểm.

Trong phần lý thuyết của Section C: động từ rất hay gặp là “Discuss”. Nghĩa là chúng ta cần đưa ra ý kiến, tranh luận, so sánh về các khía cạnh của một vấn đề.  Do đó, nếu chúng ta chỉ đơn thuần liệt kê ra các ý thì sẽ không đạt điểm bạn nhé.

Trong phần bài tập của Section C: động từ hay gặp là “Calculate”. Nghĩa là chúng ta cần đưa ra phép tính và có giải thích cho phép tính đó. Kiểu như là giải thích tôi đang tính cái gì đó. Nếu động từ là “Calculate and Comment” nghĩa là cần đưa ra nhận xét cho kết quả chúng ta tính ra nữa.

  • Chọn không đủ đáp án với các câu hỏi thuộc Section A và B

Với dạng câu hỏi yêu cầu nhiều đáp án (multiple response). Chúng ta sẽ không được điểm nếu chỉ chọn đúng 1 đáp án.

Với câu hỏi yêu cầu điền số (fill blank), chúng ta cần chú ý định dạng của câu trả lời (như %, Times hay Days, $ hay $m…).

  • Nhầm lẫn giữa “Cash operating cycle” và “Net working capital”

Cash operating cycle = Inventory days + Accounts Receivable days – Trade payables days

Net working capital = Current assets – Current liabilities

  • Sử dụng 365 ngày 1 năm để tính các tỷ lệ về tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Trong khi đề bài chỉ rõ là 360 ngày 1 năm.

CHỦ ĐỀ KHÓ NHẰN NHẤT CỦA F9 ACCA: “RISK MANAGEMENT” (PHẦN 2)

Bài 11/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9 Financial Management: “Interest rate risk management”

(Video 8 – Video 11)

Trong phần 2 của chủ đề về Risk Management, chúng ta sẽ đi tìm hiểu 2 nội dung của “Interest rate risk management”:

  • Nguyên nhân phát sinh rủi ro lãi suất
  • Các công cụ để quản lý rủi ro lãi suất

1. Nguyên nhân phát sinh rủi ro lãi suất

1.1. Rủi ro lãi suất là gì?

Trước tiên:

  • “Interest rate”: là mức giá áp dụng cho các giao dịch vay nợ, là chi phí của việc vay vốn
  • “Interest rate risk”: là rủi ro của sự biến động trong lãi suất làm ảnh hưởng đến lợi nhuận/dòng tiền

Như vậy các công ty với các khoản vay lớn hay các tổ chức tín dụng, ngân hàng… sẽ phải đối diện với rủi ro lãi suất lớn.

Như ở phần rủi ro tiền tệ chúng ta đã đề cập là rủi ro luôn mang tính 2 mặt, 2 chiều. Rủi ro lãi suất cũng vậy. Luôn có rủi ro rằng doanh nghiệp tham gia vào các thoả thuận khiến cho doanh nghiệp phải gánh chịu tổn thất lớn khi lãi suất biến động theo hướng bất lợi. Hoặc bỏ lỡ các biến động lãi suất theo hướng có lợi.

1.2. Nguyên nhân phát sinh rủi ro lãi suất

Rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp không biết điều gì sẽ xảy đến trong tương lai. Rủi ro lãi suất phát sinh khi doanh nghiệp không biết:

  • Mức lãi suất doanh nghiệp có thể phải trả cho các khoản phải trả phát sinh lãi suất
  • Mức lãi suất doanh nghiệp có thể kiếm được từ các “tài sản phát sinh lãi suất” như deposits…

1.3. Các trường hợp phát sinh rủi ro lãi suất

(1) Các khoản vay với lãi suất thả nổi (Floating interest rate debt)

Do lãi suất là thả nổi thì khi lãi suất thị trường tăng, lãi suất các khoản vay của công ty sẽ bị tăng lên. Do đó chi phí lãi vay cũng phát sinh tăng.

(2) Các khoản vay với lãi suất cố định (Fixed interest rate debt)

Do lãi suất là cố định thì khi lãi suất thị trường giảm, lãi suất các khoản vay của công ty vẫn sẽ bị cố định. Do đó chi phí lãi vay sẽ không được giảm xuống theo thị trường. Công ty bị mất lợi thế cạnh tranh.

(3) Gap exposure

Bao gồm:

  • Negative gap: là tình trạng phát sinh khi công ty có giá trị “interest-sensitive liabilities” đến hạn > “interest-sensitive assets” đến hạn. Khi đó rủi ro lãi suất phát sinh khi lãi suất tăng tại thời điểm đáo hạn vì lãi vay phải trả sẽ bị tăng nhiều hơn là thu nhập lãi vay nhận được.
  • Positive gap: là tình trạng phát sinh khi công ty có giá trị “interest-sensitive liabilities” đến hạn < “interest-sensitive assets” đến hạn. Khi đó rủi ro lãi suất phát sinh khi lãi suất giảm tại thời điểm đáo hạn vì thu nhập từ lãi vay sẽ bị giảm nhiều hơn là chi phí lãi vay phải trả.

(4) Basic risk

Rủi ro này phát sinh khi công ty có các tài sản & nợ phải trả cùng quy mô & đều nhận/trả lãi suất thả nổi. Do vậy các khoản này có thể “off-set” lẫn nhau do đó không phát sinh rủi ro lãi suất nữa.

Tuy nhiên, các tỷ lệ lãi suất thả nổi có thể không được xác định trên các cơ sở khác nhau.

VD: 1 khoản vay có thể được xác định lãi suất theo lãi suất 1 tháng của LIBOR. Trong khi 1 tài sản tài chính khác xác định theo lãi suất 6 tháng của LIBOR. Như vậy: 2 loại lãi suất này sẽ không thể hoàn toàn triệt tiêu nhau.

Mục tiêu của quản lý rủi ro lãi suất là: hạn chế ảnh hưởng của sự không chắc chắn trong biến động của lãi suất. Các phương pháp quản lý rủi ro lãi suất có thể chia thành 2 nhóm:

  • Internal Hedging techniques
  • External Hedging techniques

2.  Hedging techniques (Interest rate risk management)

(1) Asset & liability management

Kỹ thuật này liên quan đến việc quản lý & duy trì các khoản phải thu & khoản phải trả có cùng thời gian đáo hạn.

VD: 1 công ty vay với lãi suất 7% pa trong vòng 10 năm để đầu tư mua 1 toà nhà sau đó cho thuê lại. Tỷ suất lợi nhuận từ việc cho thuê toà nhà dự kiến là 9% pa trong 5 năm đầu. Như vậy trong 5 năm này, công ty có tỷ suất LN thu được > lãi vay nên OK. Tuy nhiên sau 5 năm nếu tỷ suất LN cho thuê nhà giảm xuống chỉ còn 6% pa thì khi đó công ty sẽ bị thua lỗ. Do vậy, cách an toàn nhất là thu xếp khoản vay có thời hạn = tài sản tương ứng. Trong trường hợp này là khoản vay trong 10 năm thì nên có hợp đồng cho thuê trong 10 năm.

(2) Matching & Smoothing

Smoothing

Khi đi vay hoặc gửi tiền vào ngân hàng, các công ty thường sẽ có lựa chọn áp dụng lãi suất thả nổi hay lãi suất cố định. Lãi suất thả nổi áp dụng thường được xây dựng trên cơ sở tham chiếu đến khung lãi suất LIBOR (VD: lãi suất áp dụng: LIBOR + 3%)

Nếu lãi suất cố định được áp dụng: sẽ không có rủi ro & bảo vệ công ty khi lãi suất thị trường diễn biến bất lợi. Nhưng sẽ không cho phép công ty tận dụng được diễn biến có lợi & bị mất lợi thế cạnh tranh.

Đây là kỹ thuật đơn giản để quản lý rủi ro lãi suất bằng cách duy trì sự cân bằng giữa các khoản vay/tài sản có lãi suất cố định & lãi suất thả nổi.

VD: với các khoản vay, khi lãi suất tăng, chỉ có các khoản vay với lãi suất thả nổi mới bị tăng chi phí lãi vay. Như vậy sẽ ảnh hưởng ít hơn là khi toàn bộ các khoản vay đều là lãi suất thả nổi.

Matching

Kỹ thuật này sẽ yêu cầu doanh nghiệp có cả tài sản & nợ phải trả có cùng cơ sở lãi suất và có giá trị càng gần nhau càng tốt.

VD: 1 khoản tiền gửi $0.5m với mức lãi suất LIBOR+1% và 1 khoản vay $0.55m với lãi suất LIBOR+2%

Giả sử hiện tại LIBOR là 3%:

Lãi tiền gửi $0.5m * (3% + 1%) = $20.000 và lãi khoản vay là $0.55m * (3%+ 2%) = $27.500

Net cost = $7.500

Nếu LIBOR tăng từ 3% lên 4%:

Lãi tiền gửi $0.5m * (4% + 1%) = $25.000 và lãi khoản vay là $0.55m * (4%+ 2%) = $33.000

Net cost = $8.000

Như vậy khi lãi suất tăng hay giảm thì “chi phí thuần” cũng sẽ duy trì ở mức ổn định. Có sự chênh lệch giữa $7.500 & $8.000 là do quy mô của khoản tiền gửi & khoản vay không hoàn toàn bằng nhau.

(3) Forward rate agreements (FRAs)

FRAs là kỹ thuật hedge rủi ro lãi suất bằng cách cố định lãi suất cho các khoản vay hoặc gửi tiền ngắn hạn trong tương lai.

Thuật ngữ cần hiểu:  “4–7, 5.5%–5% FRA”

Chúng ta có thể tách thành các thông tin sau:

  • “4-7” là thoả thuận cố định lãi suất cho kỳ bắt đầu trong 4 tháng tới & trong khoảng thời gian dài 3 tháng
  • “5.5%–5%” là lãi suất cố định theo mức: lãi suất vay vốn là 5.5% và lãi suất gửi tiền là 5%. Hãy nhớ lại các khái niệm chúng ta đã học ở Foreign currency risk management nhé. Ngân hàng luôn mua rẻ bán đắt. Nên lãi suất vay vốn bao giờ cũng cao hơn lãi suất tiền gửi.

Ví dụ

Công ty A dự tính phải vay $10m từ ngân hàng X trong 4 tháng tới với thời gian vay 3 tháng. A sợ rằng lãi suất sẽ tăng tại thời điểm vay. A muốn hedge rủi ro lãi suất cho giai đoạn 4 tháng tới bằng cách sử dụng FRA với ngân hàng Y. Lãi suất FRA hiện tại do ngân hàng công bố là 5%–4.5% FRA. Yêu cầu:

  • Xác định loại FRA cần sử dụng?
  • Kết quả của FRA sẽ như nào khi lãi suất 4 tháng sau (tại thời điểm thực hiện khoản vay) là 6%?
  • Kết quả của FRA sẽ như nào khi lãi suất 4 tháng sau (tại thời điểm thực hiện khoản vay) là 4.5%?

(i) Công ty đang có nhu cầu vay trong 4 tháng tới với thời gian vay 3 tháng. Do vậy, loại FRA cần sử dụng: 4 – 7 FRA at 5% pa

(ii) Khi lãi suất tăng lên 6% pa:

Chi phí lãi vay A phải trả cho ngân hàng X: $10m * 6% * 3/12 = $150.000

Chi phí ngân hàng Y trả cho công ty A theo FRA: $10m * (6% – 5%) * 3/12 = $25.000

Chi phí thuần của khoản vay công ty A phải bỏ ra: $125.000

(iii) Khi lãi suất giảm xuống 4.5% pa:

Chi phí lãi vay A phải trả cho ngân hàng X: $10m * 4.5% * 3/12 = $112.500

Chi phí công ty A phải trả cho ngân hàng Y theo FRA: $10m * (5% – 4.5%) * 3/12 = $12.500

Chi phí thuần của khoản vay công ty A phải bỏ ra: $125.000

Như vậy chúng ta có thể thấy:

  • Trong cả 2 trường hợp “lãi suất thực tế” mà công ty A phải trả là 5% – tỷ lệ lãi suất của FRA mà A đã sử dụng để hedge rủi ro.
  • Khi lãi suất tăng, FRA đã thành công bảo vệ công ty khỏi bị mất thêm chi phí. Nhưng khi lãi suất giảm, FRA lại khiến công ty không thể “tiết kiệm” được chi phí vì lãi suất thực tế áp dụng đã bị cố định theo FRA.

Đặc điểm của FRA

Có rất nhiều điểm tương tự như FEC trong quản lý rủi ro tiền tệ: Foreign currency risk management. Đó cũng chính là lý do nhiều bạn bị nhầm lẫn 2 khái niệm này.

  • Là thoả thuận với ngân hàng theo dạng giao dịch trực tiếp giữa 2 bên (Over-the-counter transaction)
  • Là thoả thuận mang tính ràng buộc pháp lý nhằm cố định lãi suất cho việc vay/gửi tiền cho 1 giai đoạn ngắn hạn bắt đầu từ 1 thời điểm trong tương lai.

Lưu ý:

FRA không phải là hợp đồng vay hay gửi tiền. Nó chỉ là hợp đồng cố định lãi suất. Do vậy, công ty có thể vay/gửi tiền với 1 bên. Và thu xếp FRA với 1 ngân hàng khác.

  • Khi lãi suất thị trường tại ngày bắt đầu vay > lãi suất của FRA: ngân hàng sẽ trả cho công ty phần chênh lệch giữa lãi suất FRA & lãi suất thị trường.
  • Khi lãi suất thị trường tại ngày bắt đầu vay < lãi suất của FRA: công ty sẽ phải trả cho ngân hàng phần chênh lệch.

(4) Công cụ phái sinh lãi suất (“Interest rate derivatives”)

Tương tự như rủi ro tiền tệ, rủi ro lãi suất cũng có thể được hedge bằng cách sử dụng các công cụ phái sinh:

(i) Interest rate futures

Công cụ này sẽ cho phép chủ sở hữu Futures kiếm được thu nhập tiền lãi/ phải trả chi phí tiền lãi tại 1 tỷ lệ lãi suất nhất định trong tương lai:

  • “Selling a future”: hình thành nghĩa vụ vay tiền và nghĩa vụ trả lãi.
  • “Buying a future”: hình thành nghĩa vụ gửi tiền/cho vay & quyền nhận tiền lãi.

Đặc điểm

Về bản chất: công cụ này không khác gì đi cá cược xem lãi suất trong tương lai sẽ tăng hay giảm. Nó có tác dụng bảo vệ doanh nghiệp hệt như FRAs bên trên. Chỉ khác là:

  • Hợp đồng futures sẽ là “standardized contract” nghĩa là giá trị, lãi suất, thời gian sẽ được thiết lập theo các tiêu chuẩn sẵn.
  • Được mua bán trên thị trường chứng khoán

Về cơ chế hoạt động:

  • Người đi vay sẽ lo sợ lãi suất tăng. Vì thế họ sẽ hedge rủi ro lãi suất tăng bằng cách “Selling a future” (đi vay) tại thời điểm hiện tại để vay được giá rẻ. Sau đó họ sẽ “Buying a future” (cho vay) trong tương lai khi lãi suất đã tăng để cho vay được giá cao.
  • Người cho vay/Người gửi tiền sẽ lo sợ lãi suất giảm. Vì thế họ sẽ hedge rủi ro lãi suất giảm bằng cách “Buying a future” (cho vay) tại thời điểm hiện tại để cho vay được giá cao. Sau đó họ sẽ “Selling a future” (đi vay) trong tương lai khi lãi suất đã giảm để đi vay được giá thấp.

Với cơ chế này, người mua/người bán futures sẽ thu được lợi nhuận = Net-off giữa việc vay giá rẻ và cho vay giá cao.

Giá của hợp đồng futures sẽ phụ thuộc vào lãi suất hiện hành của thị trường.

Ví dụ: 1 hợp đồng futures cho phép người vay và người cho vay phải trả và nhận mức lãi suất là 5% – là lãi suất thị trường hiện tại.

Nếu lãi suất thị trường tăng lên 6%:

  • Hợp đồng futures 5% sẽ trở nên kém hấp dẫn với người mua (người cho vay) vì họ có thể đi gửi tiền và kiếm lãi suất 6% thay vì “Buy a future” và chỉ kiếm lãi 5%. Do vậy, giá của hợp đồng futures phải giảm xuống để hấp dẫn người mua.
  • Hợp đồng futures 5% sẽ trở nên hấp dẫn với người bán (người đi vay). Vì khi họ “Sell a future” sẽ chỉ phải trả lãi 5% trong khi theo lãi suất thị trường họ phải trả lãi 6%. Cầu nhiều thì giá sẽ tăng do cân bằng cung cầu. Vì vậy giá của hợp đồng futures sẽ tăng.

(ii) Interest rate options

Công cụ này cho phép doanh nghiệp tránh được rủi ro lãi suất biến động theo hướng bất lợi & tận dụng được lợi thế khi lãi suất biến động theo hướng có lợi. Đây cũng là công cụ duy nhất cho phép điều này. Chính vì vậy nên Option sẽ có nhược điểm là phí cao.

Options cho phép người sở hữu quyền – nhưng không phải nghĩa vụ bắt buộc để mua hoặc bán theo 1 lãi suất nhất định và với khoảng thời gian nhất định. Vào ngày option hết hạn, người mua có thể lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện quyền của họ.

Về cơ chế hoạt động: tương tự như Futures

  • Người đi vay sẽ lo sợ lãi suất tăng. Vì thế họ sẽ hedge rủi ro lãi suất tăng bằng cách mua 1 lựa chọn để đi vay (Sell) tại thời điểm hiện tại để vay được giá rẻ (10%). “A option to sell” sẽ được gọi là “A put option”.

Khi lãi suất thị trường tăng (11%): người đi vay sẽ cho vay (buy) với với lãi suất 11% và lựa chọn thực hiện option để đi vay (sell) với lãi suất 10%. Như vậy nguời đi vay sẽ được hưởng thu nhập từ chênh lệch lãi suất này.

Khi lãi suất thị trường giảm (9%): người đi vay sẽ không cho vay (buy) với lãi suất 9% và sau đó thực hiện quyền chọn để đi vay (sell) với lãi suất 10%. Vì như thế sẽ bị lỗ. Thay vì vậy họ sẽ không thực hiện quyền chọn.

  • Người cho vay/gửi tiền sẽ lo sợ lãi suất giảm. Vì thế họ sẽ hedge rủi ro lãi suất giảm bằng cách mua 1 lựa chọn để gửi tiền (Buy) tại thời điểm hiện tại để gửi tiền được lãi suất cao (10%). “A option to buy” sẽ được gọi là “A call option”.

Khi lãi suất thị trường tăng (11%): người cho vay sẽ không đi vay (Sell) với với lãi suất 11% và lựa chọn thực hiện option để gửi tiền (Buy) với lãi suất 10%. Vì như thế sẽ bị lỗ. Thay vì vậy họ sẽ không thực hiện quyền chọn.

Khi lãi suất thị trường giảm (9%): người cho vay sẽ đi vay (Sell) với với lãi suất 9% & lựa chọn thực hiện option để cho vay/gửi tiền (Buy) với lãi suất 10%. Như vậy nguời đi vay sẽ được hưởng thu nhập từ chênh lệch lãi suất này.   

(iii) Interest rate swaps

Liên quan đến việc các công ty tráo đổi khoản thanh toán lãi vay trong 1 khoảng thời gian được thoả thuận.

Ví dụ về trường hợp đơn giản nhất: Công ty A đồng ý trả lãi vay cho khoản vay của công ty B. Trong khi B sẽ đồng ý thanh toán lãi vay cho khoản vay của công ty A. 2 khoản vay có cùng đồng tiền giao dịch. Nhưng 1 khoản là lãi suất thả nổi & 1 khoản là lãi suất cố định.

Lưu ý

Nếu tình huống yêu cầu bạn lựa chọn phương pháp phù hợp để hedge rủi ro lãi suất, bạn sẽ cần cân nhắc các yếu tố:

  • Chi phí thực hiện
  • Độ linh hoạt của công cụ (VD: tailored contract hay standardized contract…)
  • Kỳ vọng của công ty
  • Khả năng tận dụng biến động có lợi của tỷ giá

Vậy là mình đã hoàn thành xong 11 bài viết hướng dẫn tự học môn F9 Financial Management. Các bài viết này có mục đích bao quát đủ các topic quan trọng nhất của môn F9. Hy vọng đã gíup ích cho các bạn. Nếu bạn có câu hỏi cần trao đổi thì comment nhé. Bọn mình sẽ cố gắng phản hồi sớm. Chúc các bạn ôn thi hiệu quả, đạt kết quả như ý!

ACCA F9: CHỦ ĐỀ “INVESTMENT APPRAISAL” – PHẦN 3 (VIDEO UPDATED)

Bài 6/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9: “Investment Appraisal” – Thẩm định dự án đầu tư (Phần 3)

 

(Tổng số Video: 17 trong đó Phần 3: Video 13 – Video 17)

Tiếp theo bài Thẩm định dự án đầu tư – Phần 2, chúng ta hãy cùng làm rõ các nội dung còn lại của chủ đề Thẩm định dự án đầu tư – “Investment Appraisal” – Phần D (Chương 7 – Chương 11) sách BPP.

2. Kỹ thuật DCF (cont’d)

2.9. Thẩm định dự án đầu tư trong điều kiện thực tế

Trong phạm vi môn F9, chúng ta sẽ xem xét 4 trường hợp đặc biệt:

TH1. Ảnh hưởng của thuế 

Thuế sẽ ảnh hưởng lên dòng tiền của dự án trên 5 khía cạnh quan trọng. Và bạn lưu ý cả 5 khía cạnh này đều là những điểm thí sinh thường mắc lỗi:

(1) Khi công ty đầu tư vào các tài sản cho các dự án, công ty sẽ nhận được “tax-relief” hay “tax-benefit” từ chi phí khấu hao của các tài sản này.

(2) Phân biệt “Tax benefit”/”Tax relief” với “tax – allowable depreciation”: 

“Tax – allowable depreciation”: là chi phí vốn khấu hao của tài sản được claim “tax benefit”.

“Tax benefit”: là số tiền công ty sẽ được nhận lại từ chính phủ. Đây mới là “tax inflow” cần được bao gồm trong bảng tính Cash flows của dự án.

Tax benefit = Tax-allowable depreciation * Tax rate

Nhiều thí sinh thường bao gồm “tax-allowable depreciation” vào bảng cash flow thay vì “tax benefit”.

(3) Thu nhập từ dự án sẽ phải chịu thuế. Do đó sẽ có dòng tiền ra do nộp thuế.

(4) Thời điểm phải nộp thuế (thực hiện nghĩa vụ thuế) và thời điểm được nhận “Tax benefit”: có thể là tại năm phát sinh (“when obligation occurs”) hoặc là 1 năm sau đó (“one year in arrears”).

Ví dụ: 1 dự án có dòng tiền qua 2 năm như sau:

ItemsYear 0Year 1Year 2
Revenue10002000
Expenses-900-1600
Accounting before tax100400
Tax payable (20%)-20-80
Accounting after tax80320

(5) Khi tình huống đề bài giả định rằng “taxation is ignored”, bạn sẽ cần dùng tỷ lệ chiết khấu trước thuế (“before – tax discount rate”) để chiết khấu dòng tiền. Và ngược lại. Khi thuế được bao gồm trong dòng tiền dự án, bạn cần dùng tỷ lệ chiết khấu sau thuế (“post-tax discount rate”).

TH2. Ảnh hưởng của lạm phát

(1) Lạm phát là gì?

Lạm phát là 1 đặc điểm của các nền kinh tế. Hiểu đơn giản là sự tăng giá chung của hàng hoá, dịch vụ theo thời gian. Nói cách khác, lạm phát chính là sự suy gỉam giá trị của đồng tiền.

Khi thẩm định dự án đầu tư, các nhà quản lý cần phải bao gồm ảnh hưởng của yếu tố lạm phát đến “dòng tiền” & “chi phí sử dụng vốn” của dự án.

(2) 2 khía cạnh ảnh hưởng của lạm phát trong thẩm định dự án đầu tư

  • Ảnh hưởng đến tỷ lệ chiết khấu: Phân biệt “Real discount rate” và “Nominal discount rate”

Mối quan hệ giữa lãi suất & tỷ lệ lạm phát được thể hiện qua công thức của Fisher:

(1 + i) = (1 + r)*(1+h)

Trong đó: i là lãi suất danh nghĩa – “nominal rate”; r là lãi suất thực tế – “real rate”; h là tỷ lệ lạm phát

Áp dụng vào “tỷ lệ chiết khấu”:

  • “Nominal Discount Rate” là tỷ suất lợi nhuận danh nghĩa mà nhà đầu tư nhận được đã bao gồm ảnh hưởng của lạm phát.
  • “Real Discount Rate” là tỷ suất lợi nhuận thực tế mà nhà đầu tư nhận được chưa bao gồm ảnh hưởng của lạm phát.

VD: Lãi suất thực tế mà nhà đầu tư muốn nhận được là 10%. Tỷ lệ lạm phát là 2%. Thì lãi suất danh nghĩa nhà đầu tư nhận được là: (1+10%) * (1+2%) – 1 = 12.2%

  • Ảnh hưởng đến “dòng tiền” của dự án: Phân biệt “Real cash flows” và “Nominal cash flows”

“Real cash flows” là số tiền thực tế nhận được – chưa bao gồm ảnh hưởng của lạm phát.

“Nominal cash flows” là số tiền danh nghĩa nhận được – đã bao gồm ảnh hưởng của lạm phát.

VD. Công ty bán được 2.000 sp năm 1 & 4.000 sp năm 2 với mức giá $5/sp. Mức giá này chưa bao gồm ảnh hưởng của lạm phát là %5/năm. Khi đó: mức giá $5 là “real price”.

Dòng tiền thực tế (“Real cash flow”) của Năm 1: $5 * 2.000 = $10.000 & Năm 2: $5 * 4.000 = $20.000

Dòng tiền danh nghĩa (“Nominal cash flow”) của Năm 1: $5 * (1 + 5%) * 2.000 = $10.500 & Năm 2: $5 * 4.000 * (1+5%)^2 = $22.050

(3) Đề thi ACCA có thể yêu cầu xem xét ảnh hưởng lạm phát theo 2 phương pháp:

  • “Nominal/Money approach”
  • “Real approach”

Vậy, nguyên tắc ở đây là gì?

Sử dụng tỷ lệ chiết khấu thực tế để chiết khấu dòng tiền thực tế & tỷ lệ chiết khấu danh nghĩa để chiết khấu dòng tiền danh nghĩa.

Đây là nguyên tắc vô cùng quan trọng. Các bạn cần xem đi xem lại cho đến khi hiểu và ghi nhớ được nguyên tắc này.

Tips: trong đề thi cách tiếp cận thường được sử dụng là “Money approach” hay “Nominal approach”. Bạn có thể dễ dàng nhận ra cách tiếp cận này – với các đặc điểm như: Dòng tiền phát sinh có các tỷ lệ lạm phát khác nhau. Hoặc trong các câu hỏi liên quan đến cả vấn đề thuế & lạm phát.

TH3. Lựa chọn dự án trong trường hợp thiếu hụt vốn (Capital rationing)

Khi DN có đầy đủ vốn thì tất cả dự án có NPV > 0 đều có thể được chọn. Tuy nhiên, trong thực tế thì nguồn vốn đầu tư của DN thường sẽ bị hạn chế ở 1 mức nhất định. Do vậy, DN sẽ phải tìm cách để tối ưu danh mục đầu tư của mình. Phân bổ nguồn vốn cho những dự án tối ưu nhất.

Trong trường hợp này, nếu xếp hạng dự án theo NPV sẽ có thể đưa ra kết quả sai. Do NPV thường dẫn đến lựa chọn các dự án lớn với NPV lớn. Tuy nhiên khi tính tổng NPV của các dự án này thì có thể sẽ nhỏ hơn tổng NPV của các dự án nhỏ hơn.

Phương pháp có thể sử dụng ở đây là PI – Profitability Index – Chỉ số sinh lời.

PI là gì?

Phản ánh mối quan hệ giữa giá trị hiện tại (PV) của dòng tiền thuần hàng năm của dự án đầu tư so với vốn đầu tư ban đầu

Nguyên tắc lựa chọn?

  • Dự án có PI <1: Loại bỏ
  • Dự án có PI = 1: Có thể lựa chọn hoặc từ chối dự án.
  • Dự án PI >1: cần xem xét 2 trường hợp: Nếu các dự án độc lập nhau thì các dự án đều có thể được chấp thuận. Ngược lại, nếu các dự án loại trừ lẫn nhau thì dự án có PI lớn nhất sẽ được chọn.

Cách áp dụng?

  • Xếp hạng các dự án theo PI.
  • Điều chỉnh danh sách các dự án nhằm sử dụng tối đa nguồn vốn hiện có và tối đa hoá NPV.

Ưu nhược điểm

Ưu điểmNhược điểm
1. Phản án mối liên hệ giữa thu nhập do dự án đưa lại với số vốn đầu tư bỏ ra để thực hiện dự án.1. Giống như phương pháp IRR, PI  cũng không phản ánh trực tiếp giá trị tăng thêm của dự án.
2. Có thể sử dụng để so sánh các dự án có số vốn đầu tư khác nhau để thấy được mức sinh lời giữa các dự án.2. Chỉ có thể áp dụng khi các dự án là có thể chia nhỏ. Nếu dự án không thể chia nhỏ, DN sẽ phải tìm ra cơ cấu đầu tư tối ưu bằng cách thử kết hợp các dự án để tìm ra phương án mang lại NPV cao nhất
3. Sử dụng được trong trường hợp nguồn vốn bị giới hạn.
4. Cho phép đánh giá khả năng sinh lời của dự án đầu tư có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền.3. Không xem xét đến quy mô tuyệt đối của mỗi dự án. 1 dự án với PI cao có thể là 1 dự án nhỏ, và có NPV nhỏ.
5. Tương tự như NPV, PI cũng giả định tỷ lệ tái đầu tư bằng với mức chi phí sử dụng vốn của dự án. Giả định này phù hợp hơn so với phương pháp IRR

TH4. Lựa chọn dự án trong điều kiện có rủi ro & sự không chắc chắn (Risk & uncertainty)

(1) Phân biệt “Rủi ro” & “Sự không chắn chắn”?

Hai khái niệm này thường bị nhầm lẫn:

  • Rủi ro (“Risk”): khả năng công ty không đạt được những mục tiêu kỳ vọng – các kết quả có thể xảy ra trong tương lai không thể dự đoán 1 cách chắn chắn nhưng có thể ước tính xác suất (“probability”) của mỗi kết quả đó.
  • Sự không chắn chắn (“Uncertainty”): là những kết quả có thể xảy ra trong tương lai không thể dự đoán 1 cách chắn chắn và không thể ước tính xác suất của mỗi kết quả đó.

Để xem xét ảnh hưởng của rủi ro đến quyết định đầu tư – sử dụng phương pháp “Probability analysis”. Còn khi xem xét ảnh hưởng sự không chắc chắn – sử dụng phương pháp “Sensitivity analysis”.

(2) Probability analysis

Phương pháp này sẽ đi xác định giá trị ước tính của NPV của dự án. Sau đó sẽ đo lường rủi ro. Cách phổ biến để đo lường rủi ro là tính xác suất dự án không đạt được NPV dương.

VD: các bạn xem trong video tương ứng.

(3) Sensitivity analysis

Có 2 cách tiếp cận để phân tích sự không chắn chắn của 1 dự án:

  • Phương pháp “Sensitivity analysis”
  • Phương pháp “Certainty equivalent approach”

Phương pháp “Sensitivity analysis”

Phương pháp này sẽ đi đánh giá sự thay đổi của “NPV” của dự án khi có sự thay đổi trong các biến số được sử dụng để tính NPV. VD: Giá bán, sản lượng tiêu thụ… Từ đó xác định được NPV sẽ nhạy cảm với biến số nào nhất. Và phạm vi thay đổi của những biến số đó.

Sensitivity = (NPV / PV of variable) %

Chỉ số này càng thấp thì độ nhạy cảm càng cao.

VD: các bạn xem trong video tương ứng.

Phương pháp “Certainty Equivalent Approach”

Phương pháp này sẽ chuyển đổi các dòng tiền ước tính của dự án sang giá trị tương đương không bao gồm rủi ro.

  • Với dòng tiền vào: Dòng tiền có rủi ro càng lớn thì có “certainty equivalent value” càng nhỏ
  • Với dòng tiền ra: Dòng tiền có rủi ro càng lớn thì có “certainty equivalent value” càng lớn

Các dòng tiền chuyển đồi sau đó sẽ được chiết khấu theo “risk-free rate”.

VD: các bạn xem trong video tương ứng.

3. Các dạng câu hỏi/bài tập thường gặp ở Section C

Qua thống kê đề thi các năm, Section C của Topic này thường gặp các dạng câu hỏi, bài tập như sau:

Các dạng câu hỏi lý thuyết:

  • Thảo luận về việc sử dụng phương pháp Probability analysis/ Sensitivity analysis trong việc đánh giá Rủi ro của các dự án đầu tư.
  • Phân biệt 2 phương pháp xử lý lạm phát trong tính toán NPV: Nominal (money terms) approach và Real terms approach.

Các dạng bài tập:

Topic này nhìn qua sách study text thì thấy rất nhiều và phức tạp. Nhưng dạng bài tập tính toán thì lại chỉ bao gồm 2 dạng chính:

(1) Tính toán và đánh giá khả năng chấp nhận dự án theo phương pháp NPV bao gồm lạm phát và thuế. VD: đề thi June/2014; Dec/2014; Dec/2015; Sep/2016; Sept-Dec/2017
(2) Tính toán và đánh giá khả năng chấp nhận dự án với 2 phương pháp Probability analysis và Sensitivity analysis (có bao gồm lạm phát và thuế nhưng ở dạng đơn giản). VD: đề thi June/2015; Mar-June/2016; Mar-June/2017

Ngoài ra, bài tập có thể kết hợp thêm yêu cầu áp dụng phương pháp Discounted payback period, IRR.

4. Các lỗi sai thường gặp

Theo báo cáo của Examiner thì trong Topic này, thí sinh thường gặp một số lỗi sai chung như: xác định sai yêu cầu câu hỏi, chọn không đủ đáp án đối với câu hỏi lựa chọn nhiều đáp án… Mình đã giải thích về các lỗi này tại bài F9 Financial Management – Dạng bài về Working capital Management . Các bạn tham khảo nhé.

Ngoài ra, thì có một số lỗi đặc thù của riêng topic này như sau:

(1) Xác định sai số năm của dự án

Có bạn thì giả định dự án kéo dài 5 năm trong khi đề bài đã ghi rõ là “four-year project”. Trong khi có bạn thì xác định nhầm phần vốn ban đầu (Initial investment/Outlay) vào “year 1” trong khi phải là “year 0”.

(2) Bài tập có thông tin về lạm phát “inflation”

Nhiều thí sinh thường mắc lỗi áp dụng sai cách tính dòng tiền khi có lạm phát. Ví dụ, nếu như giá bán đơn vị là $10 trước khi tính ảnh hưởng của lạm phát 5%. Thì cách tính giá bán đã có lạm phát phải là như sau:

NămCách tínhKết quả
Year 1=$10 * (1+5%) ^ 110.50
Year 2=$10 * (1+5%) ^ 211.03
Year 3=$10 * (1+5%) ^ 311.58
Year 4=$10 * (1+5%) ^ 412.16

Cũng với dạng bài tập có lạm phát, có bạn lại áp dụng sai “Discount rate”. Chúng ta cần lưu ý rằng có 2 phương pháp để tính DCF khi có lạm phát: Money terms (nominal) approach và Real terms approach. Phần này mình đã giải thích bên trên.

(3) Với bài tập có thông tin về thuế: Nhầm lẫn “Tax allowance depreciation” và “Tax benefit”. Và thời điểm để nhận được “tax benefit”.Phần này mình cũng  đã giải thích bên trên.

(4) Đề bài yêu cầu “Calculate” and “comment” nhưng nhiều bạn chỉ “Calculate” mà không “Comment”. Khi đề bài yêu cầu “comment” về khả năng chấp nhận dự án dựa trên kết quả tính NPV, thì chúng ta cần giải thích kiểu như: “The investment project is financially acceptable under the NPV decision rule because it has a substantial positive NPV”. Nếu như bạn chỉ nói ” This project is acceptable” mà không nêu lý do tại sao nó nên được chấp nhận. Bạn sẽ không đạt điểm.

CHỦ ĐỀ KHÓ NHẰN NHẤT CỦA F9 ACCA: “RISK MANAGEMENT” (PHẦN 1)

Bài 10/11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F9 Financial Management: “Foreign Currency Risk”

 

Total Video: 7

“Risk Management” hay Quản lý rủi ro (Part G – BPP study text) chính là chủ đề khó nhằn nhất của môn F9 Financial Management.

Chủ đề này giải thích bản chất & các phương pháp để hạn chế, gỉam thiểu rủi ro của rủi ro tiền tệ (“Foreign currency risk”) và rủi ro lãi suất (“interest rate risk”).

Trong phần 1 của chủ đề này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu 3 nội dung của “Foreign currency risk”:

  • Bản chất/Nguyên nhân của rủi ro tiền tệ
  • Các khái niệm & thuật ngữ cơ bản liên quan đến rủi ro
  • Các công cụ để quản lý rủi ro tiền tệ (“Foreign exchange hedging techniques”)

1. Nguyên nhân phát sinh rủi ro

(1) Bản chất của rủi ro tiền tệ

Bản chất của rủi ro tiền tệ (“foreign currency rate”) là sự thay đổi trong tỷ gía trao đổi hay giá trị trao đổi của 1 đồng tiền.

Nó là 1 rủi ro 2 chiều. Nghĩa là sự biến động của tỷ giá trao đổi có thể theo hướng có lợi (“Favorable”) hoặc bất lợi (“Adverse”). Cho nên chúng ta không nên nhầm lẫn từ “Risk” trong giới hạn là sự bất lợi.

Ví dụ: 1 công ty tại Việt Nam nhập khẩu $100,000 hàng hoá từ Mỹ vào T1 & phải thanh toán trong T4.

Nếu theo tỷ giá hiện tại ( $1 = VND 22,000), công ty sẽ cần: 22,000 * $100,000 = VND 2.2bil để thanh toán khoản nợ này.

Còn trong T4, tỷ giá là: $1 = VND 22,500: công ty sẽ cần 22,500 * $100,000 = VND 2.25bil để thanh toán.

Tức là cần nhiều tiền hơn. Như vậy, tỷ giá được coi là đã biến động theo hướng bất lợi cho công ty (Adverse).

(2) Các dạng phát sinh của rủi ro tiền tệ (“foreign currency risk”)

Rủi ro tiện tệ phát sinh ở 3 dạng sau:

“Translation risk”: là rủi ro công ty bị lỗ tỷ giá khi chuyển đổi kết quả kinh doanh của 1 chi nhánh/công ty con ở nước ngoài sang đồng tiền của nó.

“Transaction risk”: là rủi ro khi tỷ giá trao đổi biến động theo hướng bất lợi cho công ty trong các giao dịch mua bán quốc tế. Rủi ro này phát sinh khi 1 công ty nhập xuất khẩu theo đồng tiền ngoại tệ. Và có sự biến động tỷ giá giữa ngày thực thanh toán và ngày giao dịch. Đây là rủi ro mà chúng ta đi nghiên cứu trong chủ đề này.

“Economic risk”: là rủi ro khi tỷ giá ngoại tệ biến động làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh quốc tế của 1 công ty. Đó là rủi ro mà 1 đồng tiền bị gia tăng/ suy giảm giá trị hơn trong sự so sánh với các đồng tiền khác. Nền kinh tế sẽ trở nên cạnh  tranh/kém cạnh tranh hơn.

2. Các khái niệm & thuật ngữ cơ bản về rủi ro

Lý do khiến đây là topic khó nhằn nhất của F9 không phải vì độ phức tạp trong tính toán hay tình huống. Khó khăn ở đây là lượng lớn các khái niệm và thuật ngữ cần hiểu. Nếu không hiểu được các thuật ngữ này, chúng ta sẽ không thể hiểu được các phương pháp để quản lý rủi ro.

(1) Phân biệt “Depreciation” / “Devaluation” với “Appreciation”

Appreciation: là sự gia tăng trong giá trị/tỷ lệ trao đổi của 1 đồng tiền so với 1 đồng tiền khác.

Depreciation: là sự suy giảm giá trị trong giá trị/tỷ lệ trao đổi của 1 đồng tiền so với 1 đồng tiền khác.

Ví dụ:

Tại 1.1.20X1: $1 đổi được 22,000 VNĐ

Tại 1.1.20X2: $1 đổi được 23,000 VNĐ.

Tại 1.1.20X3: $1 đổi được 21,500 VNĐ

Như vậy:

Tại 1.1.20X2: đồng Dollar đã gia tăng giá trị (“Appreciation”) so với VNĐ

Tại 1.1.20X3: đồng Dollar đã suy giảm giá trị (“Depreciation”) so với VNĐ

(2) Phân biệt “A strengthening currency” và “A weakening currency”

“A strengthening currency” nghĩa là 1 đồng tiền có thể mua được nhiều hơn 1 đồng tiền khác so với quá khứ (tương đương “Appreciation”)

“A weakening currency” nghĩa là 1 đồng tiền có thể mua được ít hơn 1 đồng tiền khác so với quá khứ (tương đương “Depreciation”)

(3) Phân biệt “Offer rate”/”Offer price” và “Bid rate”/ “Bid price”

Tỷ lệ trao đổi/tỷ giá giữa các đồng tiền được thể hiện thông qua 2 tỷ lệ: Offer rate / Bid rate.

2 tỷ lệ này thường được cung cấp theo 1 cặp. Cách hiểu về 2 tỷ lệ này tuỳ thuộc vào vai trò của người tham gia thị trường. Tuy nhiên: “Bid rate” < “Offer rate” (“Bid rate” ở bên trái – “Offer rate” ở bên phải)

Ví dụ: 1 người muốn giao dịch mua/bán USD = tiền VNĐ với ngân hàng. Ngân hàng có thể cung cấp thông tin tỷ giá cho anh ta theo 2 dạng như sau:

USD/VND: 0.000043 – 0.000045 (Có nghĩa là 1 VNĐ mua được …USD. Trong đây, USD là “Foreign currency” còn VNĐ là “Base currency”)

Hoặc

VND/USD: 22,222 – 23,256 (Có nghĩa là 1 USD mua được …VNĐ. Trong đây, VNĐ là “Foreign currency” còn USD là “Base currency”)

Khi đó:

Nếu anh ta mua ngoại tệ (ngân hàng bán USD cho anh ta): tỷ giá áp dụng là 0.000043 (tương đương $1 = VNĐ 23,256). Đây gọi là Bid rate/Bid price.

Nếu anh ta muốn bán ngoại tệ (ngân hàng mua USD của anh ta): tỷ giá áp dụng là 0.000045 (tương đương $1 = VNĐ 22,222 VNĐ). Đây gọi là Offer rate/Offer price.

Các bạn lưu ý việc nhầm lẫn 2 tỷ lệ này khiến cho rất rất nhiều thí sinh mất điểm.

Chốt lại: có 2 điểm cần làm khi xác định tỷ giá cần áp dụng:

  • Đồng ngoại tệ của bạn là “Base currency” hay “Foreign currency” trong cặp tỷ giá
  • Bạn đang muốn mua hay bán ngoại tệ?

(4) Phân biệt “Borrow rate” và “Deposit rate”

Borrow rate là tỷ lệ lãi suất người đi vay phải trả cho ngân hàng

Deposit rate là tỷ lệ lãi suất người gửi tiền nhận được từ ngân hàng

Trong đề thi, 2 tỷ lệ này thường được cung cấp theo cặp & không chỉ rõ đâu là “borrow rate”, “deposit rate”.

Tips: Ngân hàng luôn muốn mua rẻ – bán đắt: Borrow rate > Deposit rate.

  • Khi bạn đi vay: bạn phải sử dụng Borrow rate
  • Khi bạn cho vay: bạn sử dụng Deposit rate.

(5) Phân biệt “Spot exchange rate” và “Forward exchange rate”

“Spot exchange rate”: là tỷ giá áp dụng cho 1 giao dịch “giao ngay” – là giao dịch diễn ra và thanh toán ngay tại hiện tại.

“Forward exchange rate”: là tỷ giá áp dụng cho 1 giao dịch trong tương lai – là giao dịch thoả thuận ở hiện tại nhưng thời điểm diễn ra giao dịch & thực thanh toán sẽ xảy ra trong tương lai.

Forward rate có thể > hoặc < Spot rate:

  • Khi 1 đồng tiền có Forward rate > Spot rae: đồng tiền được nói là “is forward at a premium to the spot rate”
  • Khi 1 đồng tiền có Forward rate < Spot rate: đồng tiền được nói là “is forwart at a discount rate to the spot rate”

Forward rate là 1 dấu hiệu dự báo giá trị kỳ vọng của tỷ giá trong tương lai dựa trên các thông tin hiện tại. Spot rate thường sẽ biến động theo xu hướng của Forward rate.

(6) Dự đoán “Spot rate” và “Forward rate”

Dự đoán “Spot rate” – Phương pháp “Purchasing power parity”:

Phương pháp này dự đoán gía trị thay đổi của đồng ngoại tệ dựa vào sức mua tương ứng của đồng tiền tại từng nước. “Spot rate” sẽ biến đổi theo thời gian khi giá cả thay đổi.

Mối quan hệ này thể hiện qua công thức: S1 = So * (1 + hc) / (1+hb)

  • S1: Spot rate kỳ vọng
  • So: Spot rate hiện tại
  • Hc: Tỷ lệ lạm phát tại nước của đồng ngoại tệ “Foreign currency”
  • Hb: Tỷ lệ lạm phát tại nước của đồng nội tệ “Base currency”

Ví dụ: Tỷ lệ trao đổi hiện tại giữa $ và VND: $1 = 22,000 VNĐ. Tỷ lệ lạm phát dự tính của năm tới tại Mỹ là 5% & tại Việt Nam là 3%. Hãy tính Spot rate trong năm tới?

Từ Tỷ lệ $1 = 22,000 VNĐ => Đồng Dollar là “Base currency” và VNĐ là “Foreign currency”.

So = 22,000; hc = 3%; hb = 5%

S1 = 22,000 * (1+3%)/(1+5%) = 21,581

Như vậy tỷ lệ trao đổi giứa USD – VNĐ đang bị giảm. Nói cách khác là đồng Dollar đang bị suy giảm giá trị so với VNĐ.

Dự đoán “Forward rate” – Phương pháp “Interest rate parity”:

Phương pháp này sẽ dự đoán “Forward rate” dựa trên giả định rằng sự chênh lệch lãi suất ở 2 nước sẽ bù trừ cho sự chênh lệch giữa Spot rate và Forward rate trong cùng 1 thời kỳ.

Fo = So * (1+ic)/(1+ib)

  • ic: Tỷ lệ lãi suất trong tương lai của “Foreign country”
  • ib: Tỷ lệ lãi suất trong tương lai của “Base country”
  • So: Spot rate – Tỷ giá tại thời điểm hiện tại

Ví dụ: Tỷ lệ trao đổi hiện tại giữa $ và JPY: $1 = JPY 105. Lãi suất ước tính trong 6 tháng sau: tại Mỹ là 2%/năm và tại Nhật là 4%/năm. Hỏi “Forward rate” 6 tháng là bao nhiêu tại Mỹ?

Chúng ta cần tính tỷ giá tại Mỹ => Mỹ là Base country và Dollar là Base currency.

So = 105

ic = 4%/2 = 2% (Phải chia 2 vì đang tính “Forward rate” 6 tháng)

ib = 2%/2 = 1% (Phải chia 2 vì đang tính “Forward rate” 6 tháng)

Fo = 105 * (1 + 2%)/(1 + 1%) = 106.04 JPY

Cả 2 công thức dự đoán tỷ giá này đều có trong bảng Exam Formula – không cần phải học thuộc. Chỉ cần hiểu cách sử dụng. Quan trọng nhất là phân biệt được đâu là “Foreign currency”, “Base currency”.

3. Các phương pháp để quản lý rủi ro tiền tệ (“Hedging techniques”)

Rủi ro tiền tệ có thể được quản lý, giảm thiểu và hạn chế. Các phương pháp để thực hiện gọi là “Hedging”. Có nhiều các phương pháp để giảm thiểu rủi ro tiền tệ với các mức độ khác nhau. Và 1 công ty có thể sử dụng kết hợp nhiều biện pháp.

(1) Invoice

Nếu bạn là 1 người xuất khẩu, bạn có thể tránh được rủi ro tiền tệ bằng cách sử dụng đồng tiền giao dịch là đồng tiền của chính nước bạn (“domestic/home currency”).

Mặc dù cả người nhập khẩu/xuất khẩu đều có thể tránh được rủi ro. Nhưng sẽ chỉ có 1 trong 2 tránh được.

1 biện pháp khác có thể sử dụng là vẫn sử dụng đồng ngoại tệ trong giao dịch nhưng bạn quy định sẵn tỷ giá tại ngày thanh toán trong điều khoản hợp đồng.

(2) Match receipt & payment

Nếu bạn có 1 giao dịch bán hàng cho 1 khách hàng ở nước ngoài. Và có 1 giao dịch mua hàng từ 1 nhà cung cấp ở nước với khách hàng của bạn (Hoặc là có cùng đồng tiền giao dịch).

VD: Ngày 10/1: bạn sẽ nhận $1m từ 1khách hàng ở Mỹ. Ngày 20/1: bạn sẽ phải thanh toán $0.5m cho 1 nhà cung cấp ở Mỹ.

Như vậy, bạn có thể giảm rủi ro biến động tỷ giá bằng cách mở 1 tài khoản ngân hàng tại Mỹ. Gửi vào đó $1m. Và đơn giản là lấy số tiền này để thanh toán cho nhà cung cấp khi đến hạn. Như vậy, bạn chỉ còn phải chịu rủi ro tỷ giá cho $0.5m còn lại.

(3) Netting off

Sử dụng khi công ty của bạn có nhiều chi nhánh/công ty con. Ví dụ khi bạn phải trả $1m cho nhà cung cấp ở Mỹ. Đồng thời 1 công ty con của bạn có khoản phải thu $1.2m từ khách hàng ở Mỹ. Như vậy, bạn có thể thực hiện bù trừ công nợ với công ty con. Xét trong cả tập đoàn, dòng tiền chịu rủi ro biến động tỷ giá chỉ còn $0.2m.

(4) Leading & Lagging

“Lead payments”: Khi công ty có các khoản thanh toán ngoại tệ và công ty dự đoán rằng tỷ giá/giá trị trao đổi của đồng ngoại tệ sẽ tăng (khả năng công ty sẽ phải tốn nhiều tiền hơn để thanh toán khoản nợ ngoại tệ): Công ty có thể sắp xếp để thanh toán trước khoản công nợ này để tránh biến động bất lợi của tỷ giá.

Với phương pháp này, công ty sẽ cần so sánh giữa khoản lỗ do biến động tỷ giá với chi phí lãi vay cần bỏ ra để thu xếp tiền thanh toán nợ sớm cho nhà cung cấp. Sẽ tốt hơn nếu công ty có thể tận dụng được khoản chiết khấu thanh toán sớm.

“Lagged payments”: Phương pháp này ngược với “Leading”. Nghĩa là khi công ty dự đoán rằng tỷ giá sẽ biến động theo hướng có lợi cho công ty (tỷ giá ngoại tệ giảm và công ty sẽ tốn ít tiền hơn để thanh toán nợ): Công ty có thể tìm cách trì hoãn việc thanh toán cho đến khi tỷ giá giảm. Tuy nhiên việc này có thể sẽ khiến công ty bị mất uy tín với nhà cung cấp. Và bị phạt do thanh toán chậm.

(5) Forward exchange contract (FEC)

FEC là 1 thoả thuận mang tính ràng buộc pháp lý. Theo đó các bên sẽ mua hoặc bán 1 lượng tiền tệ nhất định tại 1 thời điểm nhất định trong tương lai theo 1 tỷ giá nhất định (Forward rate).

Đặc điểm:

  • Là 1 thoả thuận ràng buộc
  • Cố định tỷ giá cho 1 giao dịch. Do đó sẽ loại bỏ sự rủi ro về biến động tỷ gía trong tương lai. Tuy nhiên vì rủi ro mang tính 2 chiều. Nên công ty sẽ mất cơ hội tận dụng được biến động có lợi của tỷ giá.
  • Thường được thu xếp trực tiếp giữa Ngân hàng & khách hàng: Over-the-counter/OTC transactions

Ví dụ

1/Feb/20X0: 1 người Nhập khẩu ở Việt Nam có khoản phải trả $100,000 cho nhà cung cấp ở Mỹ trong 3 tháng tới (1/May/20X0)

Để tránh rủi ro biến động tiền tệ: người này có thể thu xếp 1 FEC 3 tháng với ngân hàng để mua $100,000 vào ngày ngày hôm nay (1/Feb). Forward rate của ngân hàng cho thời hạn 3 tháng: USD/VND: 0.000043 – 0.000045

Hãy xác định gía trị của hợp đồng FEC này?

Vì người nhập khẩu cần mua USD – Bank cần bán USD. Nên tỷ giá cần sử dụng là “Bid rate” 0.000043

Số tiền VND người này cần trả cho ngân hàng (giá trị của FEC): $100,000/0.000043 = 2.3 tỷ

  • Nếu Spot rate tại 1/May < 0.000043: người này đã thành công tránh khỏi sự suy gỉam giá trị của VNĐ
  • Nếu Spot rate tại 1/May > 0.000043: người này vẫn sẽ phải trả cho ngân hàng theo tỷ gía 0.000043. Và không tận dụng được sự biến động có lợi của tỷ giá.

Điều gì xảy ra nếu đến 1/May mà người NK không muốn mua $ theo FEC đã thoả thuận?

  • Ngân hàng sẽ thực hiện thủ tục “close-out of forward contract”
  • Trong phạm vi F9, không đi sâu nghiên cứu. Chỉ cần hiểu đơn gỉan là Ngân hàng và khách hàng sẽ ký hợp 1 hợp đồng ngược với hợp đồng ban đầu theo tỷ gía hiện hành để bù trừ số ngoại tệ giữa 2 hợp đồng.
(6) Money market hedging (“Synthetic forward”)

Khi bạn có 1 khoản công nợ = ngoại tệ ($) phải thanh toán trong tương lai. Bạn có thể tránh rủi ro biến động tỷ giá bằng cách:

  • Vay 1 khoản = tiền nội tệ (VND)
  • Chuyển đổi số tiền này sang ngoại tệ ($) và gửi số tiền này vào 1 tài khoản ngoại tệ ($)
  • Khi cần phải thanh toán công nợ ngoại tệ: Bạn sử dụng tại khoản tiền gửi $ để thanh toán cho nhà cung cấp. Đồng thời tất toán khoản vay nội tệ (VND) = tài khoản tiền VNĐ.

Giao dịch này gọi là “Money Market Hedge”

Ví dụ: 1 công ty ở Mỹ phải trả £100,000 cho 1 nhà cung cấp ở Anh trong vòng 3 tháng tới.

Ngân hàng công bố Spot rate hiện tại: £/$: 0.7333 – 0.7667

Lãi suất vay $ thời hạn 3 tháng: 10%/pa và Lãi suất gửi tiền $ thời hạn 3 tháng: 3%/pa.

Quá trình tương tự có thể thực hiện khi bạn có 1 khoản phải thu $ phải thanh toán trong tương lai.

(*) Lưu ý

Cả 2 phương pháp FEC & Money market hedging đều có thể được sử dụng khi có khoản thanh toán bằng ngoại tệ. Vậy công ty nên chọn phương pháp nào?

Thông thường chi phí sử dụng của 2 phương pháp là như nhau. Do vậy, chi phí giao dịch sẽ là điểm cân nhắc khi lựa chọn.

(7) Derivatives (Công cụ phái sinh)

“Derivatives” là các công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào sự biến động của tài sản hiện có. VD: cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất thị trường…

Hiện nay, công cụ phát sinh đang ngày càng phổ biến ở ViệtNam đặc biệt là các quyền chọn, hoán đổi lãi suất, tỷ giá…Trong phạm vi F9, sẽ nghiên cứu 3 công cụ phái sinh:

Currency futures (CF):

Là các hợp đồng chuẩn hoá (“Standardized contract”) cho việc mua bán 1 lượng tiền tệ tại 1 thời điểm xác định trong tương lai. Như vậy CF có thể sử dụng để giảm rủi ro tương tự như FEC.

So sánh với FEC:

  • CF là công cụ tài chính mua bán trên thị trường chứng khoán. Trong khi FEC là các giao dịch trực tiếp giữa 2 bên. Do vậy FEC được sử dụng rộng rãi hơn.
  • CF sẽ có ngày kết thúc hợp đồng linh hoạt theo IMM trong khi FEC sẽ có ngày kết thúc hợp đồng cố định
  • Với CF giao dịch được thực hiện theo Spot rate trong khi FEC thì theo Forward rate.
  • CF thường có chi phí rẻ hơn FEC

Currency options:

Người nắm giữ 1 “Currency options” sẽ có quyền mua hoặc bán 1 số lượng tiền tệ nhất định để đổi với đồng tiền khác theo 1 tỷ giá cụ thể vào hoặc trước ngày đến hạn trong tương lai.

  • Nếu người nắm giữ (Option holder) thực hiện quyền chọn, người bán sẽ phải bán/mua theo tỷ lệ đó.
  • Nếu 1 option không được thực hiện thì nó sẽ tự mất hiệu lực vào ngày hết hạn.

Option có 2 dạng cho công ty lựa chọn:

  • Quyền chọn tuỳ chỉnh theo nhu cầu cụ thể của công ty. Dạng này được gọi là “OTC option”
  • Quyền chọn theo tiêu chuẩn được gọi là “traded/exchange traded option”

Với công cụ này, người mua có thể thực hiện hoặc không thực hiện Option. Nghĩa là khi tỷ giá biến động theo hướng có lợi, người mua có thể tận dụng các cơ hội này. (Đây là công cụ duy nhất trong phạm vi môn F9 có khả năng này)

Vì sự linh hoạt này mà chi phí của quyền chọn (Option premium) thường sẽ đắt hơn các loại khác. Ngoài ra người mua sẽ phải trả tiền ngay khi mua quyền chọn.

Currency swap:

Liên quan đến việc đổi khoản nợ từ đồng tiền này sang đồng tiền khác. Swap là 1 hợp đồng chính thức của 2 bên đồng ý để trao đổi khoản thanh toán theo các điều khoản khác nhau. VD: đồng tiền, lãi suất…

Ví dụ: 1 công ty ở Anh dự định đầu tư vào Mỹ. Công ty vay £20m để đầu tư và trả lãi 5%/pa. Khi đầu tư sang Mỹ, £20m sẽ được đổi sang $ theo Spot rate (£1 = $1.5).

Thu nhập từ khoản đầu tư tại Mỹ sẽ là $ trong khi công ty sẽ phải thanh toán lãi vay bằng £.

Công ty có thể thu xếp hợp đồng “Currency Swap” với 1 công ty ở Mỹ để đổi khoản vay £20m với khoản vay $30m (lãi suất 6% pa) của công ty này.

Hàng năm khi đến hạn thanh toán tiền lãi vay: công ty ở Anh trích tiền từ khoản đầu tư tại Mỹ ($) và chuyển cho công ty đối tác tại Mỹ để họ thanh toán lãi vay cho khoản vay $30m. Và đối tác tại Mỹ sẽ chuyển cho công ty 1 khoản tiền £ để thanh toán lãi vay tại Anh.

Kết thúc thời hạn hợp đồng, công ty trả lại $30m cho đối tác. Và nhận lại £20m để thanh toán khoản khoản vay.

Copyright © 2021 Tự ôn thi

Mọi bài viết và Videos thuộc bản quyền của Tuonthi.com. Mọi hành vi sao chép, phân phối trái phép là vi phạm bản quyền.