Danh mục: F7 Financial Reporting

Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 16 Property, plant & equipment – Bất động sản, nhà xưởng và máy móc, thiết bị

Chúng ta biết rằng 1 doanh nghiệp để hoạt động thì bắt buộc phải có tài sản. Đó có thể là tiền, hàng tồn kho, nhà xưởng hay máy móc, thiết bị… Thì IAS 16 là chuẩn mực quy định về cách kế toán các tài sản như bất động sản, nhà xưởng, máy móc và thiết bị – trong bài viết này sẽ được gọi tắt là PPE (“Property, plant & equipment”).

Continue reading

“IAS 7 Statement of Cash Flows” & Cách lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ | ACCA FR & SBR Lectures

Đúng như tiêu đề, đây sẽ là 1 bài viết chi tiết và cặn kẽ về Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chuẩn mực IAS 7 Statement of cash flows. Trong bài viết này, Ad sẽ đi giải thích tất tần tật, từ bản chất của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là gì? Cho đến cách lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ riêng và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất? Vậy nên, nếu bạn đang quan tâm đến chủ đề này, thì hãy cùng Ad bắt đầu hành trình nhé.

Continue reading

[ACCA F7 Video Lectures] Chủ đề “Interpretation of Financial statements”

“Financial ratios” hay “Accounting ratios” tạm dịch là các chỉ số tài chính. Đây là 1 trong 3 dạng bài tập chủ chốt của đề thi môn F7 Financial Reporting. Xu hướng đề thi như vậy là để phản ánh thực tế: các kế toán không chỉ biết lập Báo cáo tài chính mà phải biết phân tích Báo cáo tài chính. Vậy nên, trong bài viết này chúng ta hãy đi tìm hiểu xem: Financial ratios là gì? Và cách vận dụng các chỉ số tài chính trong phân tích Báo cáo tài chính?

Có thể bạn quan tâm: Tổng hợp các dạng bài tập của đề thi ACCA F7 Financial Reporting

Ah, chủ đề này tương đương chương 19 & 20 trong sách BPP các bạn nhé!

Nếu không thích đọc thì bạn có thể tìm hiểu nội dung ở các Video này!

Nội dung bài viết gồm 3 phần:

  • (1) Financial ratios là gì? Giới thiệu tổng quát các chỉ số tài chính thường gặp?
  • (2) Cách tính các chỉ số tài chính và ý nghĩa?
  • (3) Các tình huống thường gặp về “Financial ratios” trong đề thi và các bước xử lý?

Phần 1. Financial ratios là gì?

Mục đích của Báo cáo tài chính chính là cung cấp thông tin cho người sử dụng. Tuy nhiên mọi thông tin trên Báo cáo tài chính không phải đều được “dọn sẵn”. Chúng ta cần phải biết “sử dụng” & “biến đổi” các thông tin “sẵn có” trên Báo cáo tài chính thành các thông tin ở tầng sâu hơn, có ý nghĩa hơn.

Trong phạm vi môn F7, chúng ta sẽ học cách phân tích Báo cáo tài chính qua việc tìm hiểu 4 nhóm tỷ số tài chính:

  • Profitability & Return
  • Solvency & stability
  • Efficiency (turnover ratios)
  • Shareholders’ investment ratios

Trong từng nhóm này lại gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau. Các bạn xem sơ đồ tóm tắt sau:

Financial ratios là gì? (ACCA F7 - Các chỉ số tài chính cơ bản)
(ACCA F7 Video Lectures – Financial Ratios là gì?)

Bằng việc tính ra các chỉ số tài chính này của công ty cho năm hiện tại. Sau đó so sánh với năm cũ hoặc so với các doanh nghiệp cùng ngành. Chúng ta sẽ đánh giá được tình hình tài chính hiện tại của công ty là tốt hay xấu? đang tốt lên hay xấu đi?

Sai làm cơ bản nhất của thí sinh với chủ đề này là chỉ học công thức mà không hiểu bản chất nên:

  • Không biết khi nào cần tính/sử dụng tỷ lệ nào để phân tích
  • Áp dụng sai công thức tính toán chỉ số tài chính

Vậy nên trước khi đi vào xử lý các tình huống thường gặp, chúng ta cần tìm hiểu cách tính & ý nghĩa các chỉ số tài chính sử dụng trong đề thi F7.

Phần 2. Cách tính các chỉ số tài chính và ý nghĩa

2.1. Nhóm chỉ số tài chính đo lường lợi nhuận (“Profitability ratios/Return ratios”)

Tỷ suấtCông thức tínhÝ nghĩa
(1) Tỷ suất lợi nhuận gộp (“Gross profit margin”)(Sales – COS)/ SalesPhản ánh 1 công ty còn lại bao nhiêu % lợi nhuận sau khi chi trả cho chi phí sản xuất, để bù đắp cho chi phí hoạt động, thanh toán nợ vay & các chi phí kinh doanh khác.
(2) Tỷ suất lợi nhuận ròng (“Net profit margin”) (*)Profit after tax / SalesPhản ánh 1 công ty còn lại bao nhiêu % lợi nhuận sau khi chi trả toàn bộ chi phí phát sinh. Tỷ lệ này và Gross profit margin đều sẽ phản ánh “sức khoẻ tài chính tổng quát” của doanh nghiệp.
(3) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn ROE (“Return on equity”)Profit after tax & preference dividend / Equity shareholders funds (%)Thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của cổ đông (Vốn chủ sở hữu). Hay nói cách khác: 1 đồng vốn của cổ đông bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lời.

 

Về lý thuyết: ROE càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng có hiệu quả. Những cổ phiếu có ROE cao thường được nhà đầu tư ưa chuộng hơn. Và tất yếu những cổ phiếu có chỉ số ROE cao cũng có giá cổ phiếu cao hơn. Một trong những tiêu chí đánh giá công ty có đủ năng lực tài chính theo chuẩn quốc tế, thì chỉ số ROE phải đạt mức tối thiểu 15%.

(4) Tỷ lệ sinh lời trên vốn ROCE (“Return on capital employed”) (**)Profit before interest & tax / Capital employed

 

Trong đó:

Capital employed = Total assets – Current liabilities = Equity + Non-current liabilities

Thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn từ tất cả các nguồn vốn bao gồm VCSH & nợ của công ty. Hay nói cách khác: 1 đồng vốn của công ty bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lời. 

 

Đối với những nhà đầu tư mới gia nhập sân chơi thì ROCE là một chỉ số tốt để so sánh khả năng sinh lời của các công ty.

Các nhà đầu tư cũng nên so sánh ROCE của một công ty với chi phí vay vốn hiện tại. ROCE đo lường khả năng huy động vốn theo một cách ít tốn kém nhất của công ty. ROCE cao là bằng chứng về việc sử dụng vốn hiệu quả.

Không có tiêu chuẩn cho ROCE là bao nhiêu thì tốt. Nhưng thông thường ROCE ít nhất phải cao gấp đôi tỉ lệ lãi suất.

Lưu ý:

(*) Net profit margin tuỳ từng trường hợp mà có thể được tính toán theo công thức khác nhau. VD: sử dụng Operating profit hoặc Profit after tax hoặc Profit before tax… Công thức đề cập chỉ là công thức thường sử dụng. Cần đọc kỹ đề bài để xem cần sử dụng công thức nào.

(**) Để tìm ra nguyên nhân ROCE cao hay thấp, ROCE có thể được tính và phân tích theo công thức:

ROCE = PBIT / Capital employed = (PBIT/Sales) * (Sales/Capital employed) = Profit margin * Asset turnover

Trong đó:

  • Profit margin: phản ánh khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ 1 đồng doanh thu.
  • Asset turnover: phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản. Nghĩa là xem 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

(***) Giá trị của các chỉ số này sẽ phụ thuộc vào cơ sở tài sản mà chúng ta sử dụng:

  • Historical cost = Giá trị ghi sổ
  • Fair Value = Giá trị hợp lý

Bởi vì cơ sở tài sản này sẽ làm ảnh hưởng đến chi phí khấu hao/lợi nhuận & giá trị còn lại của tài sản/Capital employed. Khi làm bài, chúng ta cần đọc kỹ đề bài để xem cần sử dụng cơ sở tài sản nào.

2.2. Các chỉ số tài chính phản ánh tính thanh khoản & ổn định (“Solvency & Stability ratios”)

Tính thanh khoản & ổn định tài chính của 1 công ty cần được xem xét trong cả dài hạn & ngắn hạn:

Trong dài hạn

Tỷ suấtCông thức tínhÝ nghĩa
(1) Hệ số nợ (“Debt ratio”)Total debts / Total assetsPhản ánh mối liên hệ giữa các khoản nợ của 1 công ty với giá trị tài sản của nó. Từ đó thể hiện gánh nặng nợ nần 1 công ty đang phải gánh chịu.
Khi 1 công ty có hệ số nợ cao: rủi ro tài chính cao, có thể mất khả năng thanh khoản. Các tổ chức tín dụng sẽ không muốn cho công ty vay thêm. Không có tiêu chuẩn chung. Nhưng thông thường 50% sẽ là hệ số an toàn.
(2) Hệ số đòn bẩy tài chính (“Gearing ratios” hoặc “Leverage”)(Non-current liabilities / Capital employed) %Phản ánh % tài sản được tài trợ từ vốn vay. Hệ số gearing càng cao chứng tỏ khả năng tự chủ càng thấp. Rủi ro tài chính càng cao. Không có tiêu chuẩn chung. Nhưng thông thường > 50% sẽ được coi là cao.
(3) Hệ số VCSH/Tài sản (“Equity to assets ratio”)(Equity / Capital employed) %Phản ánh % tài sản được tài trợ từ VCSH. Hệ số càng cao chứng tỏ khả năng tự chủ càng cao. Rủi ro tài chính càng thấp. Không có tiêu chuẩn chung. Nhưng thông thường > 50% sẽ được coi là cao.
(4) Hệ số bù đắp lãi vay (“Interest cover”)PBIT / Interest chargesPhản ánh 1 công ty có kiếm đủ lợi nhuận trước thuế & lãi vay để chi trả cho chi phí lãi vay hay không. Hệ số càng cao chứng tỏ lợi nhuận ổn định. Không có tiêu chuẩn chung. Nhưng thông thường hệ số <= 2 sẽ được coi là thấp.
(5) Hệ số dòng tiền (“Cash flow ratio”)Net cash inflow/ Total debtsPhản ánh tình hình “dự trữ tiền” để thanh toán các nghĩa vụ nợ trước mắt & các cam kết trong tương lai của công ty.

Trong ngắn hạn

Khi đánh giá khả năng thanh toán của công ty trong ngắn hạn, chúng ta sẽ thường xuyên sử dụng thuật ngữ: “Liquidity” – Giá trị thanh khoản. Hiểu đơn giản nó là giá trị tiền công ty có thể sử dụng 1 cách nhanh chóng để thanh toán các khoản nợ & đáp ứng các nhu cầu thanh toán đột xuất khác. Bao gồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn dễ dàng chuyển đổi sang tiền, các khoản phải thu, hối phiếu phải thu…

Để đánh giá mức độ thanh khoản của 1 công ty trong môn F7, chúng ta sử dụng 3 chỉ tiêu sau:

Tỷ suấtCông thức tínhÝ nghĩa
(1) Vòng quay vốn lưu động (“Working capital cycle”/”Cash operating cycle”/ “Trading cycle”/ “Cash conversion cycle”)Inventory days + Receivable days – Payable daysLà thời gian từ khi công ty trả tiền cho nhà cung cấp cho đến khi thu được tiền từ khách hàng.

 

Vòng quay này càng dài thì thời gian tiền bị đọng trong vốn lưu động càng lâu. Các công ty sẽ muốn giảm thời gian của vòng quay vốn lưu động.

(2) Hệ số thanh toán hiện hành (“Current ratio”)Current assets/Current liabilitiesPhản ánh 1 công ty có thể thanh toán bao nhiêu lần nợ phải trả ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của công ty. Không có hệ số chung chuẩn. Thông thường mức an toàn là 1.5
(3) Hệ số thanh toán nhanh (“Quick ratio”)(Current assets – Inventories) /Current liabilitiesPhản ánh công ty có thể thanh toán bao nhiêu lần nợ phải trả ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn không bao gồm HTK của công ty. Không có hệ số chung chuẩn. Thông thường mức chấp nhận được là 0.8

2.3. Các chỉ số tài chính đo lường hiệu quả hoạt động hay tốc độ luân chuyển vốn (“Efficiency ratios” /”Turnover ratios”)

Tỷ suấtCông thức tính (*)Ý nghĩa
(1) AR payment period/Accounts receivable days/Average collection period)AR * Period time /Credit sales revenuePhản ánh thời gian trung trình để công ty có thể thu hồi khoản phải thu của mình. Vòng quay càng nhanh thì công ty thu hồi vốn càng nhanh, hay ít bị chiếm dụng vốn.
(2) AP payment periodAverage trade payables * Period time / Purchases or Cost of salesPhản ánh thời gian trung trình để công ty thanh toán cho nhà cung cấp. Vòng quay càng dài thì công ty chiếm dụng vốn của nhà cung cấp càng lâu.
(3) Số vòng quay HTK (“Inventory turnover”) hoặc Thời gian quay 1 vòng HTK (“Inventory turnover period”)Cost of sales  / Average inventory

 

Average inventory * Period time / Cost of sales

Số vòng quay HTK: Phản ánh trong 1năm thì HTK của công ty luân chuyển được bao nhiêu vòng. Chỉ số càng cao chứng tỏ HTK luân chuyển càng nhanh.

 

Thời gian quay 1 vòng HTK: Phản ánh thời gian quay 1 vòng HTK. Chỉ số càng cao chứng tỏ HTK lưu chuyển càng chậm.

Lưu ý 2 chỉ tiêu này ngược với nhau. Và rất dễ nhầm lẫn.

(*) Period time có thể là 360 hoặc 365 ngày tuỳ vào tình huống đề bài yêu cầu. Cần đọc kỹ để biết áp dụng cái nào.

2.4. Các chỉ số tài chính đo lường thu nhập hay hiệu quả đầu tư của cổ đông (“Shareholders’ investment ratio”)

Tỷ suấtCông thức tínhÝ nghĩa
(1) Thu nhập trên cổ phiếu (“Earnings per share”)Profits after tax & preference dividends / Number of ordinary sharesĐây là phần lợi nhuận thuộc về cổ đông tính cho 1 cổ phiếu thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp.

 

2 doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn.

Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo “chất lượng” của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.

(2) Tỷ lệ Cổ tức trên cổ phiếu (“Dividend per share”)Dividends paid to ordinary shares / Number of ordinary sharesPhản ánh 1 cổ phần thông thường nhận được bao nhiêu đồng cổ tức? Thông thường, việc doanh nghiệp chi trả 1 tỷ lệ cổ tức một cổ phần (DPS) cao thường tạo tâm lý tích cực cho cổ đông, giúp giá cổ phiếu tăng.
(3)Tỷ lệ chi trả cổ tức (“Dividend cover”)EPS / DPSPhản ánh doanh nghiệp dành ra bao nhiêu % thu nhập để trả cổ tức cho cổ đông?

 

Thông thường, nếu 2 doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh như nhau, nhà đầu tư sẽ đánh giá cao hơn doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn. Vì doanh nghiệp đó giữ lại nhiều lợi nhuận để tái đầu tư nên được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh trong tương lai.

(4) Hệ số giá trên lợi nhuận (“P/E ratio”)Current market price / EPSHệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường & thu nhập của mỗi cổ phiếu

 

PE cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần. Hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; Và ngược lại.

(5) (“Dividend yield”)Dividend on the share for the year / Current market price per share (ex.div) %Phản ánh nhà đầu tư bỏ ra 1 đồng mua cổ phiếu trên thị trường, thì có thể thu về bao nhiêu đồng cổ tức? Trong trường hợp doanh nghiệp không tăng vốn, tỷ suất cổ tức phản ánh hiệu quả vốn đầu tư vào cổ phiếu.

Phần 3. Tình huống thường gặp về “Financial Ratios” trong đề thi & cách xử lý

3.1 Dạng bài tập thường gặp về chỉ số tài chính trong đề thi F7

Các tình huống bài tập liên quan đến chủ đề này khá đơn giản:

Dạng 1: Đề bài cung cấp BS/PL và yêu cầu đánh giá kết quả thực hiện của công ty qua việc so sánh các chỉ tiêu tài chính của năm hiện tại với năm trước. Hoặc so sánh với các chỉ tiêu trung bình ngành. Để tăng mức độ phức tạp, đề bài có thể yêu cầu phải điều chỉnh BS/PL theo các thông tin cung cấp (Đề thi Dec/2017; June/2016; Sep/2016; June/2018)

Dạng 2: Đề bài cung cấp BS/PL của 1 công ty mục tiêu. Yêu cầu đánh giá tình hình tài chính của công ty này để xem có nên mua hay không? (Đề thi Dec/2015; Dec/2014; Dec/2016)

Dạng 3: Đề bài cung cấp BS/PL của công ty chưa bao gồm ảnh hưởng của giao dịch “discontinued operation”. Yêu cầu phải điều chỉnh lại BS/PL để bao gồm ảnh hưởng của giao dịch “discontinued operation”. Sau đó tính toán các chỉ tiêu tài chính để đánh giá ảnh hưởng của giao dịch “discontinued operation” đến công ty (Đề thi June/2017; June/2015).

Có thể bạn quan tâm: Đề thi ACCA F7 Past papers

3.2. 5 bước xử lý dạng bài sử dụng chỉ số tài chính để phân tích Báo cáo tài chính

Để giải quyết các dạng bài tập này, chúng ta làm 5 bước như sau:

Bước 1. Điều chỉnh lại BS/PL theo dữ liệu đề bài cung cấp

Đề bài thường yêu cầu chúng ta điều chỉnh BS/PL để:

  • BCTC phản ánh hợp lý hơn tình hình tài chính của công ty. VD: điều chỉnh Doanh thu theo mức giá bán thị trường; điều chỉnh cách phân loại các khoản công nợ…
  • Phản ánh ảnh hưởng của giao dịch “discontinued operations”. VD: loại trừ doanh thu/chi phí của “discontinued operations” ra khỏi kết quả hoạt động của công ty

Việc điều chỉnh này rất đơn giản. Xem tài khoản nào bị ảnh hưởng thì điều chỉnh vào tài khoản đó để lập BS/PL mới là xong.

Bước 2. Xác định xem mình cần nhận xét cái gì để làm cơ sở xác định các chỉ tiêu cần tính toán

Việc nhận xét thường trên 3 khía cạnh lớn:

  • Performance: Khả năng tạo ra doanh thu, lợi nhuận của công ty. Chúng ta cần tính các chỉ tiêu thuộc nhóm “Profitability” / “Shareholder’s investment”
  • Position: Khả năng thanh toán, cơ cấu vốn, rủi ro tài chính… Chúng ta cần tính các chỉ tiêu thuộc nhóm “Liquidity”/”Efficiency”
  • Future: Kết hợp cả 2 khía cạnh trên: trong tương lai gần có nghĩa vụ nợ lớn nào cần phải thanh toán không? dòng tiền có khả năng có vấn đề gì không? hoạt động kinh doanh có tiềm tàng rủi ro gì không?

Đề bài có thể sẽ chỉ rõ luôn các chỉ tiêu cần tính toán luôn. Khi đó chúng ta chỉ cần xem chỉ tiêu nào phục vụ cho khía cạnh nhận xét nào.

Bước 3. Đề bài có đưa ra yêu cầu cụ thể cho việc tính toán các chỉ tiêu này không?

Có 1 số chỉ tiêu có nhiều cách tính:

  • Net profits margin: sử dụng “Profits after tax” hay “Operating profits”?
  • Efficiency/ turnover ratios: sử dụng 360 ngày hay 365 ngày?
  • ROCE: sử dụng PBIT (“Profits before interest & tax”) hay “Profit after tax” hay “Operating profits”
  • Gearing ratios: áp dụng công thức (Non-current liabilities/Capital employed) hay (Liabilities/Equity)
  • EPS/DPS: tình huống có cổ phiếu ưu đãi (“preference shares”) không? có cổ tức chi trả cho cổ phiếu ưu đãi không?
  • Cơ sở tài sản áp dụng khi tính các chỉ tiêu tài chính: dựa trên Giá trị hợp lý (“Fair value”) hay Giá trị ghi sổ (“Carrying amount”)

Bước 4. Thực hiện tính toán & đưa ra nhận xét dựa trên kết quả tính toán

Phần tính toán thường chỉ được ít điểm trong khi phần nhận xét, phân tích kết quả sẽ được nhiều điểm. Do vậy chúng ta cần phân bổ thời gian để làm bài sao cho hợp lý.

Chúng ta cũng cần lưu ý: Phần nhận xét không chỉ chỉ ra chỉ tiêu nào tăng/giảm bao nhiêu, mà cần chỉ rõ lý do có thể dẫn đến sự tăng/giảm đó. Ví dụ:

  • “Net profit margin” năm nay so với năm trước tăng 10% do doanh thu tăng hay do chi phí giảm?
  • Doanh thu năm nay tăng $0.5m tương ứng 10% so với năm trước là do giá bán tăng hay sản lượng tiêu thụ tăng nhờ công ty đầu tư quảng cáo?
  • ROCE năm nay giảm 5% so với năm trước là do lợi nhuận của công ty giảm hay do công ty huy động thêm vốn trong kỳ?

Bước 5. Đưa ra kết luận chung

Sau khi nhận xét từng chi tiết của bức tranh, chúng ta cần nhận xét tổng thể về chất lượng của bức tranh đó. Nghĩa là sau khi đã nhận xét về từng chỉ tiêu, chúng ta cần đưa ra kết luận tình hình của doanh nghiệp là tốt hay xấu.

Vậy là xong 1 dạng bài tập nữa. Hy vọng các bạn đã có câu trả lời “Financial ratios là gì” cũng như hiểu được ý nghĩa và cách tính các chỉ số tài chính cơ bản.

ACCA F7 Video Lectures | Những điều cơ bản cần biết về “Leases” và IFRS 16

Trong bài viết tiếp theo của Series hướng dẫn tự học ACCA F7 Financial Reporting, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về chủ đề “Leases”. Với 2 nội dung chính: Đầu tiên là cách hạch toán “Lease agreements” khi chúng ta là người đi thuê. Và thứ hai là cách xử lý giao dịch “Sale and Lease Back”. Nhưng trước tiên, chúng ta cần làm rõ “Lease là gì?” đã.

Phần 1. Lease là gì? Cách xác định “Lease agreements”

1. Lease là gì?

“Lease” nếu chúng ta dịch thô ra thì là hợp đồng thuê (bất động sản, máy móc, thiết bị). Còn theo quy định tại IFRS 16:

“Lease” là 1 hợp đồng, hoặc 1 phần hợp đồng chuyển nhượng quyền kiểm soát việc sử dụng 1 tài sản (“the underlying asset”) trong 1 khoảng thời gian để đổi lại lấy 1 khoản thanh toán.

IFRS 16, Paragraph 9

Như vậy:

(1) 1 hợp đồng có thể bao gồm cả yếu tố “Lease” và các yếu tố khác không phải “Lease”. Ví dụ như hợp đồng dịch vụ. Khi đó, các thành phần khác này cần phải được tách ra để ghi nhận, hạch toán riêng.

(2) Quyền kiểm soát việc sử dụng (The right to control the use”) của tài sản sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:

  • Quyền thu thập phần lớn các lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản đó và
  • Quyền để điều khiển việc sử dụng của tài sản. Quyền này thể hiện khi: người thuê có quyền điều khiển cách thức và mục đích tài sản được sử dụng trong toàn bộ thời gian sử dụng. Hoặc các quyết định liên quan về việc sử dụng tài sản đã được quy định trước trong thoả thuận, người thuê sẽ có thể sử dụng tài sản mà người cho thuê không có quyền thay đổi các hướng dẫn ban đầu này.

2. Cách xác định 1 hợp đồng có phải là “Lease agreement” không?

Trước khi đi xem cách hạch toán hay trình bày các hợp đồng thuê trên báo cáo tài chính như nào, điều đầu tiên chúng ta cần làm là phải xác định xem hợp đồng thuê đó có phải là hợp đồng thuê theo quy định tại IFRS 16 hay không đã?

Từ định nghĩa ở mục 1, ta có thể thấy rằng: Điều kiện tiên quyết để 1 hợp đồng có phải là “lease” hay không, đó là xem người thuê có quyền kiểm soát việc sử dụng tài sản hay không?

Các bạn xem sơ đồ các bước xác định “Quyền sử dụng tài sản” của người đi thuê & “Lease agreements” dưới đây:

ACCA F7 LEASE LÀ GÌ? CÁCH XÁC ĐỊNH LEASE AGREEMENTS

Ví dụ 1. C Co vừa ký hợp đồng 5 năm với Y Co. Theo đó: Y Co sẽ cung cấp cho C Co 10 xe bus để phục vụ vận chuyển công cộng. Y Co sở hữu các loại xe bus này. C Co xác định các tuyến đường hoạt động cho các xe và mức phí áp dụng. C Co có thể sử dụng các xe này cho mục đích khác ngoài vận chuyển công cộng. Khi 10 xe này không được sử dụng, chúng được giữ ở văn phòng của C Co. Và Y Co không thể lấy lại các xe này trừ khi C Co không trả đúng kỳ hạn các khoản thanh toán. Nếu các thiết bị này cần phải sửa chữa, bảo trì, Y Co có nghĩa vụ phải cung cấp phương tiện thay thế tạm thời cùng loại cho C Co.

Yêu cầu: Hãy xác định hợp đồng giữa C Co và Y Co phải là “Lease agreement” không?

Thực hiện theo quy trình ở hình ảnh bên trên, ta xác định được các thông tin sau:

  • Hợp đồng này liên quan đến các tài sản cụ thể (10 xe bus)
  • Người thuê có quyền thu được lợi ích kinh tế từ việc sử dụng 10 xe bus này. Vì C Co có quyền chạy xe – thu vé.
  • C Co (Người thuê) có quyền điều khiển cách thức và mục đích sử dụng xe trong thời gian thuê.

Do vậy, đây là hợp đồng chứa yếu tố “Lease”.

Phần 2. Cách hạch toán “Lease agreements” khi chúng ta là bên đi thuê (“Lessee”)

Các bạn lưu ý 2 điểm:

(1) Trong phạm vi môn F7, chúng ta chỉ học cách hạch toán “Lease” cho vai trò của bên đi thuê (“Lessee”). Không học cách hạch toán cho bên cho thuê (“Lessor”).

(2) Quy định về cách hạch toán “Lease agreements” được thực hiện theo quy định tại IFRS 16. IFRS 16 đã thay thế IAS 17 trước đây. Các bạn hiểu đơn giản thế này:

  • Lúc trước IAS 17 yêu cầu bên đi thuê phải phân chia “Lease Agreements” là Thuê tài chính (“Finance Lease”) hay Thuê hoạt động (“Operating Lease”). Từ đó có cách hạch toán tương ứng cho từng loại. Tuy nhiên, IFRS 16 đã xoá bỏ điều này.
  • IFRS 16 áp dụng chung 1 cách hạch toán cho tất cả các giao dịch “Lease” có thời hạn > 12 tháng. Trừ khi tài sản liên quan thuộc loại có giá trị thấp (“Low Value”). Nghĩa là, các giao dịch “Lease” có thời hạn <= 12 tháng hoặc liên quan tài sản có giá trị thấp thì được lựa chọn không hạch toán theo IFRS 16. Chỉ cần đơn giản là phân bổ, ghi nhận phí thuê vào chi phí hàng kỳ là xong. Lưu ý: Quyền mua (“Purchase Option”) không thể coi là có thời hạn < 12 tháng nhé.

(3) Các tài sản được coi là “Low value” khi chúng có giá trị bé ngay khi là tài sản mới. Ví dụ: máy tính, thiết bị văn phòng…

1 cái xe ô tô cũ nên được thuê với giá thấp sẽ không được coi là tài sản có giá trị thấp nhé. Vì xe ô tô này khi mới chắc chắn không thể là 1 tài sản “low value”

Bây giờ chúng ta hãy đi xem xét cho cách ghi nhận Tài sản quyền sử dụng & Nợ thuê phải trả tương ứng.

1. Cách ghi nhận Tài sản quyền sử dụng (“The right-of-use asset”)

(1) Tài sản quyền sử dụng được ghi nhận ban đầu theo Nguyên giá (“Cost”), bao gồm:

  • Giá trị khoản thanh toán ban đầu (“Initial Measurement”) của Nghĩa vụ nợ thuê
  • Các khoản thanh toán tiền thuê đã được thực hiện trước ngày bắt đầu thuê – Các khoản hoa hồng tiền thuê đã nhận được
  • Các chi phí trực tiếp ban đầu khác phát sinh
  • Các chi phí mà bên đi thuê sẽ phát sinh để tháo dỡ hay loại bỏ các tài sản thuê hoặc khôi phục hiện trạng cho mặt bằng để tài sản khi hợp đồng thuê kết thúc

(2) Sau ghi nhận ban đầu, quyền sử dụng tài sản thông thường sẽ được đo lường theo nguyên tắc giá gốc (IAS 16 – tương tự PPE). Trừ khi đó là tài sản thuộc nhóm tài sản áp dụng Nguyên tắc đánh giá lại giá trị tài sản theo IAS 16 hoặc đó là bất động sản đầu tư cần ghi nhận theo IAS 40.

  • Nếu cuối thời gian thuê, hợp đồng thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản sang cho bên đi thuê, hoặc chi phí thuê đã bao gồm quyền mua tài sản (“Purchase option”) và người thuê dự định sẽ thực hiện quyền này: quyền sử dụng tài sản nên được khấu hao theo thời gian sử dụng ước tính của tài sản.
  • Ngược lại: quyền sử dụng tài sản nên được khấu hao từ ngày bắt đầu thuê cho đến thời điểm sớm hơn giữa thời gian sử dụng hữu ích & thời gian thuê.

(3) Trình bày trên Báo cáo tài chính

Quyền sử dụng tài sản nên được trình bày thành 1 dòng riêng biệt ở mục Non-current assets hoặc bao gồm trong số tổng tài sản và trình bày ở phần thuyết minh.

2. Cách ghi nhận Nghĩa vụ thanh toán tiền thuê (“Lease liability”)

(1) Nghĩa vụ thanh toán nợ thuê cần được ghi nhận tại ngày bắt đầu thuê theo giá trị hiện tại (“Present Value”) của các khoản thanh toán tiền thuê trong tương lai chưa thanh toán. Bao gồm:

  • Khoản thanh toán tiền thuê cố định – Các khoản hoa hồng thuê phải thu
  • Khoản thanh toán tiền thuê biến đổi phụ thuộc vào CPI hoặc tỷ lệ cho thuê trên thị trường
  • Các khoản dự tính phải trả do bảo đảm khi kết thúc hợp đồng thuê (“residual value guarantees”). Ví dụ: Người đi thuê đảm bảo với bên cho thuê rằng tài sản này vẫn sẽ có 1 mức giá nhất định sau hợp đồng thuê
  • Giá thực hiện của các quyền chọn mua nếu chắc chắn thực hiện

Các khoản thanh toán tiền thuê biến đổi khác như khoản thanh toán phát sinh do mức độ sử dụng tài sản thì sẽ được hạch toán vào chi phí trong kỳ khi phát sinh.

Bạn nào chưa học F9 thì chắc sẽ xa lạ với khái niệm “Giá trị hiện tại” này.

Các bạn hiểu đơn giản như sau: Tiền có giá trị thời gian. 1 đồng ngày hôm nay sẽ có giá trị hơn 1 đồng trong tương lai. Do vậy, khi xem xét giá trị của tiền qua các giai đoạn dài trong tương lai, chúng ta cần quy giá trị trong tương lai của tiền về hiện tại. Bằng cách chiết khấu giá trị tương lai (Future Value – FV) về giá trị hiện tại (Present Value – PV).

Công thức: PV = FV / (1 + r)^

Trong đó:

  • FV là giá trị trong tương lai của dòng tiền
  • PV là giá trị hiện tại của dòng tiền
  • r là lãi suất chiết khấu
  • n là số kỳ thanh toán tiền thuê

(2) Sau ghi nhận ban đầu, nghĩa vụ nợ thuê được đo lường theo “Amortized costs”. Nghĩa là Giá trị ghi sổ của nợ thuê:

  • Được ghi tăng khi phát sinh chi phí lãi (Interest charge) tính trên số dư nợ còn lại (Dr Finance Cost / Cr Lease liability)
  • Được ghi giảm khi bên đi thuê thực hiện thanh toán các khoản tiền thuê (Dr Lease liability / Cr Cash)

Như vậy, ta có thể thấy 1 khoản thanh toán tiền thuê (rental payment) hàng kỳ của bên đi thuê sẽ bao gồm 2 phần:

  • Chi phí lãi (Interest charge): được ghi tăng chi phí tài chính trong kỳ của bên đi thuê
  • Tiền nợ gốc (capital cost): ghi giảm vào số dư nợ thuê trên BS của bên đi thuê.

Vấn đề của kế toán là phải tách biệt được giá trị của “chi phí lãi” và “tiền nợ gốc” trong từng khoản thanh toán tiền thuê để ghi nhận. Thông thường chúng ta sẽ phải lập bảng tính. Các bạn xem ví dụ 2 dưới đây.

(3) Trình bày trên Báo cáo tài chính

Số dư nợ thuê nên được trình bày thành 1 chỉ tiêu nợ riêng biệt trên BS hoặc trình bày ở phần thuyết minh.

(4) Đo lường lại (Remeasurement)

Sau ghi nhận ban đầu, trong 1 số trường hợp người đi thuê sẽ phải đo lường lại nợ thuê phải trả. Ví dụ như khi:

  • Có sự thay đổi trong giá trị dự tính phải trả theo điều khoản “residual value guarantee”. Người đi thuê sẽ xác định lại giá trị tiền thuê phải thanh toán để phản ánh sự thay đổi này.
  • Có sự thay đổi trong các khoản thanh toán tiền thuê tương lai phát sinh từ thay đổi trong chỉ số CPI hoặc chỉ số thị trường được sử dụng để xác định giá thuê.
  • Khi có sự thay đổi trong thời hạn thuê
  • Khi có sự thay đổi trong đánh giá về lựa chọn mua tài sản…

Khi đó, người đi thuê sẽ ghi nhận giá trị đo lường mới của nợ thuê phải trả bằng cách điều chỉnh vào The right-of-use asset. Nếu giá trị còn lại của tài sản = 0 thì điều chỉnh vào PL

Ví dụ 2. Vào 1.1.20X5, B Co ký kết 1 hợp đồng thuê mới (“Lease agreements”) như sau:

Hợp đồng liên quan đến 1 bộ phận mới cho máy móc. Hợp đồng yêu cầu B Co phải trả 1 khoản đặt cọc $20,000 vào 1.1.20X5 và 5 khoản thanh toán hàng năm $55,000/năm, bắt đầu từ 31.12.20X5. Lãi suất thực tế (“implicit rate of interest”) là 11.65%

Yêu cầu:

YC1. Xác định giá trị cần ghi nhận ban đầu của Quyền sử dụng tài sản (The righ-of-use asset) và Nghĩa vụ nợ thuê (Lease liability) tại 1.1.20X5

YC2. Tính chi phí tài chính (Finance cost) cần ghi nhận vào PL của B Co cho năm 31.12.20X6?

YC3. Nghĩa vụ thuê sẽ được trình bày trên BS của B Co như nào cho năm 31.12.20X7?

Đáp án

[YC1]

Như bên trên đã đề cập, giá trị ban đầu của nghĩa vụ nợ thuê (Initial Measurement) được phản ánh theo giá trị hiện tại (“Present Value” hay PV) của các khoản thanh toán tiền thuê trong tương lai. Trong tình huống này, chúng ta mới có thông tin về các khoản thanh toán tiền thuê trong tương lai. Do vậy, chúng ta cần quy đổi các khoản tiền này về hiện tại để tính ra PV theo công thức quy đổi.

NDateAnnual rental paymentDiscount factor (1/(1+r)^n)Present Value of annual payments
Year 01.1.20X5                 –
Year 131.12.20X5        55,000                      0.896        49,261
Year 231.12.20X6        55,000                      0.802        44,121
Year 331.12.20X7        55,000                      0.719        39,518
Year 431.12.20X8        55,000                      0.644        35,420
Year 531.12.20X9        55,000                      0.576        31,680
Total      275,000       200,000

Từ bảng tính, ta xác định được giá trị cần ghi nhận của Lease liability tại 1.1.20X5 là: $200,000

Giá trị cần ghi nhận ban đầu của quyền sử dụng tài sản tại 1.1.20X5 là nguyên giá của nó $220,000. Bao gồm:

  • Giá trị ghi nhận ban đầu của Lease liability: $200,000
  • Giá trị khoản đặt cọc: $20,000

[YC2]

Chi phí tài chính = Lãi suất * Số dư nợ hiện tại

Chúng ta lập bảng tính sau:

NDateInterest charge (11.65% * Outstanding balance of the previous year)Annual Rental PaymentOutstanding balance of lease liability
Year 01.1.20X5            200,000
Year 131.12.20X5                           23,300                  (55,000)            168,300
Year 231.12.20X6                           19,607                  (55,000)            132,907
Year 331.12.20X7                           15,484                  (55,000)              93,391
Year 431.12.20X8                           10,880                  (55,000)              49,271
Year 531.12.20X9                             5,729                  (55,000)                        –

Nhìn vào bảng tính: Chi phí tài chính cần ghi nhận vào PL năm 20X6 là $19,607

[YC3]

Số dư nghĩa vụ nơ thuê tại 31.12.20X7 là: $93,391

Tuy không bắt buộc nhưng do bản chất số dư khoản nợ này bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn. Do vậy, nên được tách ra thành 2 phần nợ ngắn hạn và nợ dài hạn để trình bày riêng biệt trên BS. Cụ thể:

Current lease liability: $93,391 – $49,271 = $44,120

Non-current lease liability: $49,271 (vẫn còn phải trả tại 31.12.20X8)

Ví dụ 3. 1.1.20X5, B Co ký hợp đồng thuê 9 tháng liên quan đến 1 xe tải. Giá trị hợp lý của xe tải là $120,000 và có thời gian sử dụng ước tính là 5 năm. Hợp đồng miễn phí thuê cho B cho tháng đầu tiên. Và yêu cầu B Co phải thanh toán $4,800/tháng cho 8 tháng còn lại. Tính giá trị của hợp đồng 2 cần ghi nhận vào PL của B Co cho năm 31.12.20X5?

Đáp án.

Hợp đồng thuê có thời gian < 12 tháng. Do vậy, không cần hạch toán theo IFRS16 mà chỉ cần phân bổ tiền thuê theo thời gian thuê vào PL trong kỳ. Do vậy, chi phí thuê cần ghi nhận vào PL năm 20X5 là: $4,800 * 8 = $12,800

Phần 3. Sale and Lease back là gì? Cách hạch toán?

“Sale and Lease back” là giao dịch liên quan đến việc bán 1 tài sản sau đó lại thuê lại chính tài sản đó.

Với giao dịch loại này, quan trọng nhất là phải xác định:

Giao dịch có hình thành việc “bán hàng” (“a sale”) để ghi nhận theo IFRS 15 hay không?

Để làm được điều này, chúng ta cần xem xét khi nào các cam kết cung cấp hàng hoá, dịch vụ (“Performance Obligation”) được thoả mãn. “Performance obligation” được xác định là hoàn thành khi công ty chuyển giao quyền kiểm soát HHDV sang cho khách hàng. Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng có thể được coi là hoàn thành tại 1 thời điểm hoặc qua từng giai đoạn.

Có thể bạn quan tâm: ACCA F7 Video Lectures – Chủ đề “Revenue”

(1) Nếu giao dịch thoả mãn là “giao dịch bán hàng”:

  • Người bán (người thuê lại tài sản) xác định giá trị quyền sử dụng tài sản phát sinh từ giao dịch thuê lại theo tỷ lệ với giá trị còn lại trước đó của tài sản
  • Người bán (người thuê lại tài sản) chỉ ghi nhận phần lãi/lỗ từ giao dịch bán tài sản liên quan đến quyền sử dụng tài sản đã được chuyển giao cho người mua (người cho thuê)

(2) Nếu giao dịch không thoả mãn là “giao dịch bán hàng”: người bán tiếp tục ghi nhận tài sản đã chuyển giao và thu nhập từ chuyển giao tài sản được xử lý như 1 khoản nợ tài chính (vay có bảo đảm bằng tài sản). Và do đó, hạch toán theo IFRS 9.

Ví dụ 3. Ngày 1.1.20X9, B Co ký hợp đồng “sale and lease back” với C Co liên quan đến 1 máy cắt của B Co với giá bán là $370,000. Đây chính là giá trị hợp lý của máy vào thời điểm đó. Máy do B Co mua vào 1.1.20X8 với giá $300,000. Giá trị còn lại của máy này vào 31.12.20X8 là $250,000. Theo hợp đồng, B Co sẽ thuê lại máy này trong 5 năm – thời gian sử dụng hữu ích còn lại của máy. Mức giá thuê là $80,000/năm. Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê hàng năm $350,000. Giả sử giao dịch thoả mãn điều kiện là giao dịch bán hàng theo IFRS15.

Yêu cầu: Xác định lợi nhuận B Co cần ghi nhận vào PL trong năm 2019 liên quan đến giao dịch “sale and lease back”?

Đáp án:

Lợi nhuận B Co thu được từ giao dịch bán máy cho C Co: $370,000 – $250,000 = $120,000

Lợi nhuận liên quan đến quyền sử dụng tài sản còn lại: $120,000 * $350,000/$370,000 = $113,514

Lợi nhuận liên quan đến quyền sử dụng tài sản đã chuyển giao: $120,000 – $113,514 = $6,486

Theo quy định, B Co sẽ chỉ được ghi nhận vào PL phần lợi nhuận liên quan đến quyền sử dụng tài sản đã được chuyển giao là $6,486

Các bạn có thể tham khảo bài giảng tương ứng trên Youtube nhé:

[ACCA F7 Lectures] Deferred tax là gì? Cách xác định Deferred tax?

Deferred tax là gì? Cách xác định Deferred tax?

“Deferred tax” hay “Taxation” không phải là 1 chủ đề trọng yếu của môn F7 Financial Reporting. Tuy nhiên, nội dung của chủ đề này khá phức tạp so với mặt bằng chung của môn F7. Do vậy, mình làm 1 bài viết riêng cho chủ đề này.

Có thể bạn quan tâm: Phân tích trọng tâm ôn tập môn F7

Continue reading

IFRS 9 & IAS 32 “Financial Instruments” – Công cụ tài chính | ACCA FR/F7 Lectures

Bài 11 của Series hướng dẫn tự học ACCA F7 Financial Reporting: Chủ đề “Financial instruments là gì?”

Chủ đề này tương ứng Chương 11 trong sách BPP. Đây có thể coi là 1 trong 2 chủ đề khó nhằn nhất của môn F7. Bởi vì các “thuật ngữ” được sử dụng cũng như bản chất phức tạp của “Financial instruments”.

Trong chủ đề này, chúng ta sẽ cần phải đi tìm hiểu 5 nội dung sau:

  • Financial instruments là gì?
  • Cách xử lý tình huống về Trái phiếu/Giấy nhận nợ (“Bonds/Loan notes”)
  • Cách xử lý tình huống về Cổ phiếu (“Shares”) & các vấn đề liên quan
  • Cách xử lý tình huống về Trái phiếu/Giấy nhận nợ có thể chuyển đổi (“Convertible loan notes”)
  • Cách xử lý tình huống về “Investments through profit or loss”

1. Financial instruments là gì?

Để trả lời cho câu hỏi “Financial instruments là gì?, chúng ta hãy cùng xem tình huống sau:

1 doanh nghiệp để hoạt động thì cần vốn. Hoặc 1 doanh nghiệp có nguồn vốn dư thừa thì sẽ muốn mang vốn đi đầu tư. Vốn có thể huy động từ/đầu tư vào 2 nguồn là:

  • Nguồn vốn vay: Ví dụ như đi vay, phát hành trái phiếu, nhận tiền gửi… Các khoản này được gọi là Công cụ Nợ (“Debt instruments”).
  • Nguồn vốn chủ sở hữu như phát hành cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu… Các khoản này được gọi là Công cụ vốn (“Equity instruments”).

Như vậy, ta có thể thấy:

  • Công cụ nợ & công cụ vốn có thể được mua bán trên thị trường.
  • Khi bạn bán “Equity instruments”/”Debt instruments”: Bạn phải ghi tăng giá trị VCSH hoặc ghi tăng Nợ phải trả (“Financial liabilities”)
  • Khi bạn mua “Equity instruments”/”Debt instruments”: Bạn phải ghi tăng Tài sản. Các tài sản này có đặc điểm chung là: tài sản phi vật chất có giá trị hình thành từ “yêu cầu thanh toán” theo thoả thuận giữa các bên. Dùng thuật ngữ chuyên môn thì các công cụ này được bên mua gọi là Tài sản tài chính (“Financial assets”).
  • “Financial instruments” chính là các thoả thuận mua bán làm phát sinh “Financial assets” cho bên mua & làm phát sinh “Equity instruments” hoặc “Financial liabilities” cho bên bán

Phân biệt “Financial assets” & “Financial liabilities: 

  • Bên mua công cụ nợ/công cụ vốn sẽ ghi nhận các công cụ này là “Financial assets”
  • Bên bán sẽ ghi nhận “Financial liabilities” hoặc “Equity”

Phân biệt “Debt instruments” & “Equity instruments”: 

  • Với “Debt instruments”: lợi nhuận bạn nhận được không liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động của người đi vay.
  • Với “Equity instruments”: lợi nhuận bạn nhận được liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động của khoản đầu tư. VD: nếu mua cổ phiếu của 1 công ty, lợi nhuận bạn nhận được sẽ dựa trên sự tăng giảm giá trị của cổ phiếu trên thị trường. Hay cổ tức công ty phát hành chi trả.

Tại sao chúng ta cần phân biệt 2 điểm này?

Vì cách hạch toán 1 công cụ tài chính như nào sẽ phụ thuộc vào tình trạng của công cụ đó là: “Financial assets”/”Financial liabilities” & “Debt instruments” hay “Equity instruments”?

2. Các trường hợp cụ thể về “Financial instruments”

Chủ đề này có thể xuất hiện trong đề thi trong cả 3 phần của đề thi. Và thường xuyên xuất hiện theo kiểu 1 giao dịch trong dạng bài lập BCTC của phần C. Để xem chi tiết chủ đề này được đề cập đến trong đề thi như nào, các bạn xem bài: Dạng bài Lập Báo cáo tài chính (Phần 2).

Thay vì bơi trong sách của BPP thì mình tiếp cận chủ đề này bằng cách tập trung vào các khoản mục thường xuất hiện trong Đề thi môn F7 các năm. Tóm lại thì đề thi cũng sẽ chỉ liên quan đến 4 trường hợp về “Financial instruments” sau:

  • Trái phiếu/Giấy nhận nợ (“Bonds/Loan notes”)
  • Cổ phiếu (“Shares”) & các vấn đề liên quan
  • Trái phiếu/Giấy nhận nợ có thể chuyển đổi (“Convertible loan notes”)
  • Investments through profit or loss

Tìm hiểu hết 4 khoản mục này là chúng ta đã hoàn toàn có thể xử lý các vấn đề liên quan trong đề thi rồi.

2.1. Trái phiếu/Giấy nhận nợ thông thường(“Bonds”/loan notes”)

Bonds/Loan notes: là 1 loại giấy chứng nhận rằng bên phát hành đã vay 1 số tiền từ người mua. Và sẽ có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc vào ngày đáo hạn cũng như tiền lãi hàng kỳ theo lãi suất .. cho người mua. Liên quan đến Bonds/Loan notes sẽ có các thông tin sau cần biết:

  • “Principal value”/”Nominal value”/ “Par value”/ “Face amount”: là giá trị trái phiếu được người phát hành sử dụng để tính tiền lãi hàng kỳ. Và thông thường là số tiền gốc mà người phát hành sẽ trả khi trái phiếu đáo hạn.
  • “Coupon”/”Interest rate”: là tỷ lệ lãi suất danh nghĩa người phát hành sử dụng để tính tiền lãi hàng kỳ.
  • “Effective interest rate”: là chi phí sử dụng vốn vay thực tế mà người đi vay phải gánh chịu. Là chi phí thực tế tính vào chi phí tài chính trong kỳ. Thông thường sẽ khác với lãi suất danh nghĩa quy định trên trái phiếu.
  • “Market price”: là giá trị của trái phiếu được mua bán trên thị trường.
  • “Maturity date”: là thời điểm đáo hạn của trái phiếu – thời điểm người phát hành phải thanh toán nợ gốc.

Lưu ý: Lợi nhuận người cho vay nhận được là cố định. Không phụ thuộc vào tình hình hoạt động của bên phát hành. Do đó Bonds/Loan notes là công cụ nợ (“Debt instruments”) đơn thuần. 

Scenario 1 (Dec/2015 – Revised)

S Co phát hành 5% loan note (mệnh giá $20m) vào 1 July 2014 cho B Co theo giá là $18m. Chi phí phát hành trực tiếp (Direct issue costs) là $0.5m – đã được hạch toán vào chi phí quản lý. Loan note sẽ được đáo hạn sau 3 năm theo mức giá ưu đãi (“premium”) khiến cho tỷ lệ lãi trái phiếu thực tế là 8% pa (“effective finance cost”). Tiền lãi trái phiếu hàng năm đã được thanh toán 30 June 2015. Giả sử S Co và B Co có cùng năm tài chính. 

Phân tích tình huống:

  • 5% loan note với mệnh giá là $20m: nghĩa là mỗi năm S Co phải trả B Co số tiền lãi là $20m * 5% = $1m và khi đáo hạn sẽ phải thanh toán theo mức giá premium đã thoả thuận.
  • Đây là “Redeemable loan notes” – là công cụ nợ đơn thuần. Nên S Co sẽ phải ghi nhận “Financial liability”. Còn B Co sẽ phải ghi nhận “Financial assets”/ “Debt instruments”
  • Chi phí phát hành trực tiếp: cần được ghi giảm giá trị của công cụ nợ này thay vì ghi giảm Admin expense.
  • Chi phí lãi vay S Co /Thu nhập lãi vay B Co cần ghi nhận hàng kỳ: sẽ phải tính theo tỷ lệ lãi suất thực tế là 8% thay vì lãi suất danh nghĩa 5%.

(1) Yêu cầu: Xác định ảnh hưởng của giao dịch này cho BCTC kết thúc vào 30.June.2015 của S Co?

  • Số dư đầu kỳ của Loan note (Financial Liability): $18m – $0.5m= $17.5m
  • Chi phí lãi vay trong kỳ: $17.5m * 8% = $1.4m
  • Số dư cuối kỳ của Loan note (Liability): $17.5m + $1.4m – $1m = $17.9m
Principle 1. Measurement of “Financial liabilities” (Khi bạn là người phát hành công cụ nợ)
 
  • Các công cụ tài chính được phân loại là “Financial liability” được ghi nhận ban đầu theo:

FV của khoản thanh toán bên phát hành nhận được – Chi phí liên quan trực tiếp (*)

  • Các công cụ tài chính được phân loại là “Financial liability” sau ghi nhận ban đầu sẽ được phản ánh theo “Amortized cost”:

Outstanding balance + Interest expense – Interest paid (*)

(*) Trường hợp Debt instruments được phân loại là “At fair value through profit or loss” sẽ được ghi nhận khác – Xem mục 2.4 dưới đây.

(2) Xác định ảnh hưởng của giao dịch này cho BCTC kết thúc vào 30.June.2015 của B Co khi:

(i) B Co sẽ nắm giữ trái phiếu của S Co cho đến ngày đáo hạn để hưởng tiền lãi (“Held-to-maturity”)

  • Số dư đầu kỳ của trái phiếu (Financial assets/Debt instruments): $18m
  • Tiền lãi thực nhận hàng kỳ: $1m
  • Thu nhập từ tiền lãi năm 2015: $18m * 8% = $1.44m
  • Số dư cuối kỳ của Loan note (Financial assets/Debt instruments): $ 18m + $1.44m – $1m = $18.44m

(ii) B Co có ý định nắm giữ trái phiếu của S Co lâu dài (mặc dù họ có thể bán bất cứ lúc nào nếu được giá) (“Available-for-sale”). Giả sử tại 30.June.2016, market value của trái phiếu này là $19.44m

  • Số dư đầu kỳ của trái phiếu (Financial assets/Debt instruments): $18m
  • Tiền lãi thực nhận hàng kỳ: $1m
  • Thu nhập từ tiền lãi năm 2015: $18m * 8% = $1.44m
  • Số dư cuối kỳ của Loan note (Financial assets/Debt instruments): $ 19.44m
  • Chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị ghi sổ $19.44m – $18.44m = $1m sẽ được ghi nhận vào OCI (“Other comprehensive income”)
Principle 2. Measurement of “Financial assets” – “Debt instruments” (Khi bạn là người mua công cụ nợ)
 
  • Các công cụ tài chính được phân loại là “Financial assets” – “Debt instruments” luôn được ghi nhận ban đầu theo giá gốc:

FV của khoản thanh toán phải trả (Market price) + Chi phí liên quan trực tiếp (*)

  • Sau ghi nhận ban đầu sẽ được phản ánh theo “Amortized cost” hoặc “Fair Value” tuỳ từng trường hợp(*):

Nếu là Held-to-maturity: Amortized cost = Outstanding balance + Interest income – Interest received

Nếu là Available-for-sale: Fair Value & chênh lệch giữa FV & CA sẽ được ghi nhận vào OCI

(*) Trường hợp Debt instruments được phân loại là “At fair value through profit or loss” sẽ được ghi nhận khác – Xem mục 2.4 dưới đây.

2.2. Cổ phiếu (“Share equity”)

Cổ phiếu/Cổ phần (“Shares”): Khái niệm này thì chắc các bạn đều đã quen thuộc. Công ty khi thoả mãn các điều kiện về luật pháp thì được quyền phát hành cổ phiếu (chứng chỉ chứng nhận quyền sở hữu) ra công chúng để huy động vốn đầu tư. Người mua cổ phần sẽ được sở hữu công ty theo % cổ phần mà người đó sở hữu. Có 2 loại cổ phần:

  • Cổ phần thông thường (“Ordinary shares”): Công ty không có nghĩa vụ phải trả lại số tiền gốc mua cổ phần mà người mua (cổ đông) đã bỏ ra. Công ty có nghĩa vụ chi trả cổ tức cho cổ đông nhưng không bắt buộc mà tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty. Mức chi trả cổ tức cũng không cố định.
  • Cổ phần ưu đãi (“Preference shares”): Về cơ bản thì cổ đông ưu đãi cổ tức sẽ được chia cổ tức không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Trong phạm vi F7: chúng ta tạm chia cổ phần ưu đãi thành 2 loại: Redeemable preference shares và Non-redeemable preference shares.

Như vậy:

  • Ordinary shares & Non-redeemable preference shares: là 1 loại công cụ vốn (“equity instruments”) đơn thuần bởi vì công ty phát hành không có nghĩa vụ hoàn tiền đã nhận cho cổ đông
  • Redeemable Preference shares: là 1 loại công cụ nợ (“debt instruments”) vì công ty sẽ phải trả tiền lại cho cổ đông ở 1 thời điểm nào đó.

Scenario 2 (Dec/2018 – Revised): Vào 1. Nov. 20X7, D Co phát hành 1.5m cổ phiếu & thu tiền về ở mức giá $2.2/share. Chi phí phát hành là $5,000. Yêu cầu hạch toán giao dịch này để xác định số dư TK liên quan tại 30.June.20X8.

Phân tích tình huống: 

D Co phát hành cổ phiếu thường. Đây là công cụ vốn đơn thuần. Do vậy D Co phải ghi tăng Equity instruments tương ứng. Chênh lệch giữa mệnh giá & giá phát hành được ghi vào tài khoản Share premium. Còn Chi phí phát hành được ghi giảm giá trị của công cụ vốn này.

DR Cash: $2.2 * 1.5m = $3.3m

CR Share capital: $1 * 1.5m = $1.5m

CR Share premium: $1.8m

DR Share premium / CR Cash: $5,000

Scenario 3 (June/2015): Số dư tài khoản “equity shares” $30m và “share premium” $5m của C Co tại 31.Mar.2015 bao gồm 1 đợt phát hành rights issue 1 quyền mua cổ phiếu cho 5 cổ phiếu hiện có với giá $1.6/share vào 1.Oct.2014.  Các quyền mua này đều đã được cổ đông thực hiện. Cổ phiếu C Co có mệnh giá là $1/share và giá trị thị trường tại 1.Oct.2014 là $2.5/share. Yêu cầu: Xác định ảnh hưởng của Rights issue trên BCTC kết thúc vào 31.Mar.2015 của C Co?

Phân tích tình huống:

Rights issue là quyền mua cổ phiếu mới với những điều kiện ưu đãi. Ví dụ như với mức giá thấp hơn hẳn mức giá bán cho bên ngoài. Rights issue chỉ bán cho các cổ đông hiện có theo tỷ lệ góp vốn của từng cổ đông.

C Co phát hành Rights issue. Nghĩa là C Co đã bán “Equity instruments”. Và cần ghi nhận tăng tài khoản VCSH tương ứng với số tiền đã nhận về.

Số lượng cổ phiếu tại 31.Mar.2015: $30m/$1 = 30m

Số lượng cổ phiếu trước khi phát hành Righs issue: 30m x 5/6 =  25m.

Giá trị của đợt “Rights issue” đã thực hiện: 5m * $1.6 = $8m. Như vậy, ảnh hưởng của Rights issue đến BCTC tại 31.Mar.2015:

  • Tài khoản “Share equity” ghi nhận tăng: 5m * $1 = $5m
  • Tài khoản “Share premium” (chênh lệch giữa giá phát hành & mệnh giá) ghi tăng: 5m * ($1.6 – $1) = $3m

Scenario 4 (June/2018): H Co phát hành cổ phiếu thưởng: cứ 5 cổ phiếu hiện tại được nhận 1 cổ phiếu thưởng vào 31.Dec.20X7. Công ty dự tính sử dụng tối đa nguồn “share premium” để tài trợ cho đợt phát hành. Yêu cầu: xác định số dư tại 31.Dec.20X7 biết rằng số dư của tài khoản Ordinary share $1 tại 1.Jan.20X7: $20m & Share premium tại 1.Jan.20X7: $3m

Phân tích tình huống: 

Cổ phiếu thưởng (“Bonus issue”): là cổ phiếu được  công ty quyết định phân phối miễn phí cho các cổ đông hiện tại. H Co phát hành 1 cổ phiếu thưởng cho mỗi 5 cổ phiếu mà cổ đông hiện tại nắm giữ.

  • Số lượng Ordinary share hiện tại: 20m
  • Số lượng cổ phiếu thưởng phát hành: 20m/5 = 4m
  • Giá trị cổ phiếu thưởng: 4m * $1 = $4m

Do công ty sử dụng nguồn Share premium để tài trợ cho đợt phát hành cổ phiếu nên công ty sẽ phải ghi giảm tài khoản share premium tương ứng với giá trị cổ phiếu thưởng đã phát hành. Số chưa khấu trừ hết thì ghi giảm Retained Earnings.

  • Số dư Ordinary share tại 31.Dec.20X7: $20m + $4m = $24m
  • Số dư Share premium tại 31.Dec.20X7: 0

Principle 3. Measurement of “Equity instruments” – Bên phát hành

  • Bên phát hành công cụ vốn “Equity instruments” sẽ ghi nhận ban đầu theo giá gốc: Fair Value – Chi phí liên quan trực tiếp 
  • Công ty phát hành sẽ không đánh giá lại Công cụ vốn đã phát hành. Vì mọi sự thay đổi trong giá trị của cổ phiếu sẽ được gánh chịu bởi nhà đầu tư đã mua cổ phiếu.

Scenario 5: Vào 1.Feb.20X8 H Co mua 20,000 cổ phiếu $1/share với giá $4/share. Chi phí giao dịch là $5,000. Cuối năm, các cổ phiếu này có giá trị trường là $5.5/share. Công ty đã nhận cổ tức $0.2/share vào 30.Sep.20X8. Xác định ảnh hưởng của các giao dịch này đến BCTC tại 31.12.20X8 nếu các cổ phiếu được nắm giữ lâu dài để hưởng cổ tức (“Available-for-sale”).

Phân tích tình huống: 

Công cụ tài chính trong trường hợp này là cổ phiếu thường. Nghĩa là công cụ vốn. H Co là bên mua nên phải ghi tăng “Financial assets” – Equity instruments.

  • Cổ phiếu được ghi nhận ban đầu theo giá gốc: 20,000 * $4 + $5,000 = $85,000.
  • Giá trị cổ phiếu tại 31.12.20X8: $20,000 * $5.5 = $110,000
  • Sự thay đổi trong giá trị hợp lý & giá trị ghi sổ của cổ phiếu được ghi nhận vào Other comprehensive income (OCI) trong kỳ: $110,000 – $85,000 = $25,000
  • Giá trị cổ tức đã nhận được ghi vào Profit/Loss (Investment income): $4,000

Principle 4. Measurement of “Equity instruments” – “Financial assets” (Bên mua)

  • Bên phát hành công cụ vốn “Equity instruments” sẽ ghi nhận ban đầu theo giá gốc: Fair Value + Chi phí liên quan trực tiếp (*)
  • Sau ghi nhận ban đầu sẽ được phản ánh theo: Fair Value & chênh lệch giữa FV & CA sẽ được ghi nhận vào OCI (*)

(*) Trường hợp Equity instruments được phân loại là “At fair value through profit or loss” sẽ được ghi nhận khác – Xem mục 2.4 dưới đây.

2.3. Trái phiếu có khả năng chuyển đổi (“Convertible bonds/loan notes”)

“Convertible bonds/loan notes” là các trái phiếu có khả năng chuyển đổi sang cổ phiếu tại 1 thời điểm nhất định dưới 1 số điều kiện nhất định. Như vậy Convertible bonds sẽ không đơn thuần là Debt instruments hay Equity instruments mà là sự kết hợp cả 2.

Scenario 6 (June/2018). 1.Jan.20X7, H Co đã phát hành 80,000 4% convertible loan notes trị giá $8m (mệnh giá $100/unit) và đang ghi nhận khoản mục này là “Non-current liabilities”. Loan notes có thể được chuyển đổi sang cổ phiếu vào 31.12.20X9 hoặc thanh toán theo mệnh giá vào cùng ngày. 1 khoản vay tương đương không có quyền chuyển đổi có lãi suất yêu cầu là 6%. Lãi suất trả sau hàng năm vào 31.Dec. Khoản thanh toán hàng năm được bao gồm trong Finance costs là $320,000. PV của $1 là:

Thời gian
Tỷ lệ chiết khấu 4%
Tỷ lệ chiết khấu 6%
Năm 1
0·962
0·943
Năm 2
0·925
0·890
Năm 3
0·889
0·840

Yêu cầu: Xác định ảnh hưởng của giao dịch cho BCTC 31.Dec.20X7.

Phân tích tình huống:

H Co phát hành Convertible loan notes là công cụ hỗn hợp. Nên chúng ta phải tách phần giá trị của Debt instruments (Financial liability) và Equity instrument để ghi nhận riêng biệt. Cụ thể:

  • Giá trị phần Debt instruments: ta chiết khấu dòng tiền từ tương lai của trái phiếu về hiện tại với tỷ lệ chiết khấu là % lãi suất của Loan notes tương tự nhưng không có quyền chuyển đổi (6%).
  • Giá trị phần Equity instruments = Tổng trị giá Convertible loan notes – Debt instruments
  • Phần Debt instruments sau đó được hạch toán theo Principle 1 bên trên.
  • Phần Equity instruments được hạch toán theo Principle 3 bên trên.

Trái phiếu có tiền lãi phải trả hàng kỳ: $8m * 4% = $0.32m & Kỳ hạn: 3 năm

Thời gian
Payment ($000)
Tỷ lệ chiết khấu 6%PV ($000)
Năm 1
 320
0.943
 302
Năm 2
 320
0.89
 285
Năm 3
 8,320
0.84
 6,989
    7,575

Như vậy: Giá trị phần Debt instruments = $7,575,000 & Equity instruments = $425,000

Sau ghi nhận ban đầu, phần Debt instruments được hạch toán theo Amortized costs = Outstanding balance + Interest expense – Interest paid (trừ khi được phân loại là “At fair value through profit or loss”. Các công cụ này được ghi nhận theo Fair Value)

  • Opening balance 1.Jan.20X7: $7,575,000
  • Interest expenses: $454,522
  • Interest paid: ($320,000)
  • Closing balance 31.Dec.20X7: $7,709,882

Như vậy, có 2 bút toán điều chỉnh cần thực hiện:

DR Non-current liability / CR Equity: $425,000

DR Finance cost / CR Non-current liability: $454,522 – $320,000 = $134,522

Principle 5. Measurement of “Compound instruments”

  • Đối với các công cụ hỗn hợp, cần tách riêng giá trị của Debt instruments & Equity instrument để ghi nhận riêng biệt ban đầu cũng như phát sinh sau đó
  • Giá trị Debt instruments được xác định bằng cách chiết khấu dòng tiền tương lai về hiện tại theo % lãi suất của công cụ tương đương nhưng không có quyền chuyển đổi

2.4. Công cụ tài chính được phân loại là “at fair value through profit or loss”

Các công cụ tài chính được xác định là “Fair value at through profit or loss” khi thoả mãn 1 trong 2 điều kiện sau:

  • Được phân loại là “Held-for-trading” – Các tài sản/nợ tài chính được mua cho mục đích bán kiếm lời trong tương lai gần. Và có bằng chứng về 1 mô hình thực tế gần đây của việc tạo ra lợi nhuận ngắn hạn.
  • Khi ghi nhận ban đầu, công cụ được doanh nghiệp chỉ định là “At Fair Value through profit or loss”

Nguyên tắc thì là thế. Nhưng sẽ không đơn giản để xác định các trường hợp áp dụng theo các điều kiện này trong thực tế. Do vậy nên trong phạm vi môn F7 chúng ta không đi sâu về loại công cụ này. Chỉ nắm qua nguyên tắc thôi nhé.

Principle 6. Measurement of instruments at through profit or loss

  • Các công cụ tài chính “at Fair Value through profit or loss” sẽ luôn được ghi nhận theo Fair Value. Giá trị ghi nhận ban đầu sẽ không bao gồm chi phí giao dịch.
  • Mọi thay đổi trong Fair Value được ghi nhận vào Profit/Loss
  • Thu nhập/Chi phí tiền lãi trong kỳ ghi nhận vào Profit/Loss

Scenario 1 (Bonds/Loan notes)

(i) Khi công ty là bên phát hành Debt instruments – nếu công cụ này được phân loại là “At Fair Value through profit or loss” thì khi đó:

  • Số dư đầu kỳ của Loan note (Financial Liability): $18m
  • Chi phí lãi vay ghi nhận vào chi phí trong kỳ: $18m * 8% = $1.44m
  • Chi phí lãi vay thực tế trả trong kỳ: $1m
  • Số dư cuối kỳ của Loan note (Liability): $19.44m
  • Chênh lệch giữa FV & CA ghi nhận vào Profit/Loss: $19.44m – ($18m + $1.44m – $1m) = $1m

(ii) Khi công ty là bên mua Debt instruments – nếu công cụ này được phân loại là “At Fair Value through profit or loss” thì khi đó:

  • Số dư đầu kỳ của Loan note (Financial asset): $18m
  • Thu nhập lãi vay ghi nhận vào thu nhập trong kỳ: $18m * 8% = $1.44m
  • Thu nhập lãi vay thực tế nhận trong kỳ: $1m
  • Số dư cuối kỳ của Loan note (Financial asset): $19.44m
  • Chênh lệch giữa FV & CA ghi nhận vào Profit/Loss: $19.44m – ($18m + $1.44m – $1m) = $1m

Scenario 5 (Equity instruments) khi công ty là bên mua – nếu công cụ này được phân loại là “At Fair Value through profit or loss”:

  • Cổ phiếu được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý: 20,000 * $4 = $80,000. Chi phí giao dịch không được tính vào giá trị khoản đầu tư mà ghi vào Chi phí trong kỳ.
  • Giá trị cổ phiếu tại 31.12.20X8: $20,000 * $5.5 = $110,000
  • Sự thay đổi trong giá trị hợp lý & giá trị ghi sổ của cổ phiếu được ghi nhận vào Profit/Loss trong kỳ: 20,000 * ($5.5 – $4) = $30,000
  • Giá trị cổ tức đã nhận được ghi vào Profit/Loss (Investment income): 20,000 * $0.2 = $4,000

Vậy là xong 1 chủ đề khoai của F7. Sau khi đọc xong bài viết này, hy vọng các bạn đã trả lời được 2 câu hỏi: “Financial instruments là gì?” và “Cách xử lý 4 tình huống về financial instruments trong đề thi F7?”

Các bạn có thể tham khảo bài giảng tương ứng trên Youtube nha:

Ghi nhận Doanh thu theo IFRS 15 Revenue from contracts with customers | ACCA FR/F7 Lectures

Trong bài viết ngày hôm nay, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về chủ đề Doanh thu của môn FR/F7 được quy định tại IFRS 15 Revenue from contracts with customers. Thực ra trước khi IFRS 15 ra đời thì các giao dịch ghi nhận doanh thu sẽ tuân thủ theo quy định tại IAS 18 Revenue. IAS 18 có hạn chế chính là các quy định tiêu chuẩn đưa ra khá rộng, không đủ sát để áp dụng trong tình huống thực tế. Nên các doanh nghiệp thường phải sử dụng xét đoán nghề nghiệp khi áp dụng. Chính vì vậy, IFRS 15 ra đời.

Có 2 điểm khác biệt lớn nhất giữa IFRS 15 và IAS 18 có thể kể đến ở đây đó là:

  • IFRS 15 đưa ra phương pháp mô hình 5 bước ghi nhận đồng nhất cho tất cả các loại doanh thu trong khi đó IAS 18 sẽ đưa ra các tiêu chuẩn ghi nhận khác nhau cho từng loại doanh thu
  • IFRS 15 đưa ra các tiêu chuẩn báo cáo dựa vào hợp đồng và nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Trong khi đó IAS 18 lại dựa vào phân loại của các khoản doanh thu.

Chuẩn mực kế toán về doanh thu của Việt Nam chúng ta thì được dịch ra từ IAS 18, và hiện tại vẫn chưa được cập nhật. Vậy nên, đây sẽ là 1 trong các điểm khác biệt giữa IFRS và VAS nha.

Bởi vì FR/F7 là báo cáo tài chính ở cấp độ cơ bản, nên chúng ta sẽ chỉ dừng lại ở những khía cạnh cơ bản nhất của chuẩn mực này. Sang môn SBR chúng ta sẽ còn gặp lại chuẩn mực này sau. Cụ thể, chúng ta sẽ đi làm rõ 3 nội dung sau:

  • Các khái niệm cơ bản cần biết
  • Mô hình 5 bước ghi nhận doanh thu theo IFRS 15 Revenue from contracts with customers
  • Các loại giao dịch đặc biệt

Phần 1. Các khái niệm cơ bản cần biết trong IFRS 15 Revenue from contracts with customers

[1] “Revenue”: thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp. VD: Doanh thu từ bán hàng hoá, dịch vụ … còn thu nhập từ thanh lý TSCĐ sẽ không phải doanh thu. Mà là “Other income”. Doanh thu sẽ không bao gồm các loại thuế như: Sales taxes, VAT hay các khoản thu hộ.

[2] “Performance obligation”: là các cam kết cung cấp HHDV giữa các bên trong hợp đồng.

[3] “Contract asset”: Quyền của doanh nghiệp đối với tiền công để đổi lấy HHDV mà doanh nghiệp đã cung cấp cho khách hàng khi quyền này gắn liền với các điều kiện thực hiện hợp đồng.

[4] “Contract liability”: Nghĩa vụ cung cấp HHDV cho khách hàng tương ứng với lợi ích công ty thu được từ khách hàng.

Vậy tại sao lại phải ghi nhận Contract Asset/ Contract Liability và ghi nhận như nào?

Theo quy định tại IFRS 15:

Khi một trong hai bên tham gia hợp đồng đã bắt đầu thực hiện hợp đồng, công ty phải trình bày hợp đồng đó trên BS như là một tài sản hoặc nợ phải trả phát sinh từ hợp đồng, tùy theo tương quan giữa phần công việc đã thực hiện của công ty và khoản thanh toán của khách hàng

Cụ thể:

  • Nếu công ty thực hiện hợp đồng bằng cách chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng trước khi khách hàng thực hiện khoản thanh toán hoặc trước khi khoản thanh toán đến hạn, công ty phải trình bày hợp đồng như là một tài sản phát sinh từ hợp đồng ngoại trừ các khoản đã được trình bày là phải thu.
  • Nếu khách hàng thực hiện thanh toán trước khi công ty chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng, công ty phải thể hiện hợp đồng đó như là một khoản nợ phải trả phát sinh từ hợp đồng.

Và giá trị của hợp đồng cần trình bày trên BS sẽ được xác định theo công thức:

Contract asset/liability = Costs incurred to date + Recognized profits – Receivables

Trong đó:

  • Costs incurred to date: Là chi phí đã phát sinh để thực hiện hợp đồng tính đến ngày lập báo cáo
  • Recognized profits: Là lợi nhuận ước tính đã được công ty ghi nhận vào trong kỳ
  • Receivables: Là gía trị hàng hoá, dịch vụ mà công ty đã có quyền thu từ khách hàng do đã hoàn thành xong nghĩa vụ

Phần 2. Mô hình 5 bước ghi nhận doanh thu (“Revenue recognition”)

Bước 1: Xác định “hợp đồng” với khách hàng có đủ điều kiện được hạch toán theo chuẩn mực IFRS 15 “Revenue from contracts with customers” 

Bước 2: Xác định các nghĩa vụ thực hiện riêng rẽ “Separate performance obligations”. 

Công ty sẽ hạch toán riêng biệt doanh thu từ các nghĩa vụ này nếu các nghĩa vụ này có thể xác định riêng biệt. 1 HHDV được coi là “distinct” nếu nó được bán hoặc có thể được bán 1 cách độc lập.

VD: 1 công ty ký hợp đồng bán máy móc cho khách hàng bao gồm:

  • Dây chuyền sản xuất
  • Dịch vụ lắp đặt, chạy thử
  • Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật trong 3 năm

Biết rằng dịch vụ lắp đặt, chạy thử hay hỗ trợ kỹ thuật đêu có thể được thực hiện bởi các công ty khác. Công ty vẫn bán riêng dây chuyền sản xuất cho các khách hàng khác.

Ta thấy:

  • Công ty này có thể thu được lợi ích từ mỗi loại HH/DV này. Hoặc kết hợp chúng với nhau.
  • Các HHDV trong hợp đồng không biến đổi trọng yếu lẫn nhau
  • Các HHDV trong hợp đồng không phụ thuộc quá nhiêu với nhau

Như vậy, 3 loại hàng hoá dịch vụ này là riêng biệt với nhau. Trong các câu hỏi ở phần A hay B, bạn có thể sẽ được yêu cầu đánh giá xem các HHDV trong 1 hợp đồng có phải là riêng biệt với nhau không.

Bước 3. Xác định giá trị giao dịch (“transaction price”) – là khoản tiền công mà công ty kỳ vọng thu được từ khác hàng từ việc cung cấp HHDV. Giá giao dịch sẽ phản ánh cả các ước tính hợp lý về rủi ro tín dụng & giá trị dòng tiền (nếu trọng yếu), các khoản thanh toán tiềm tàng (chiết khấu/hoàn tiền…) nếu công ty hầu như chắc chắn rằng giá trị ước tính này sẽ không bị thay đổi hoàn toàn.

Ví dụ: A  Co bán hàng cho khách với điều kiện: nếu số lượng mua trong năm đạt từ trên 1.000 sản phẩm thì giá là $500/sp. Còn không thì giá là $550/sp. Trong năm tài chính 30.June.20X8: 

  • Tại 31.12.20X7: Khách hàng mua 600 sản phẩm từ A Co. A Co ước tính rằng trong năm này khách hàng sẽ mua không đến 1.000 sản phẩm. Do đó không đạt mức chiết khấu.
  • Tại 31.3.20X8: Do nhu cầu đột xuất khách hàng mua thêm 300 sản phẩm từ A Co. Do đó A Co ước tính khách hàng sẽ đạt mức chiết khấu.

Yêu cầu: Xác định giá trị giao dịch cho quý kết thúc vào 31.12 và 31.3

Tại 31.12: Doanh thu nên được ghi nhận: $550 * 600 = $330,000 nếu công ty hầu như chắc chắn rằng số lượng mua của khách hàng không đạt được ngưỡng 1000 sp.

Tại 31.3: Tình huống thay đổi. Công ty ghi nhận doanh thu cho quý này theo mức giá chiết khấu ($500 * 300 = $150,000 sau đó trừ đi thay đổi của doanh thu ghi nhận quý trước ($50 * 600 = $30,000)

Bước 4. Phân bổ giá trị giao dịch cho các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng riêng biệt

Khi hợp đồng bao gồm nhiều loại HHDV riêng biệt, công ty phải phân bổ giá trị của giao dịch cho từng HHDV theo mức giá công ty sẽ áp dụng nếu bán riêng biệt từng loại cho khách hàng. 

VD: 1 công ty bán điện thoại sẽ tặng tai nghe miễn phí cho khách hàng nếu ký hợp đồng sử dụng dịch vụ mạng 2 năm. Giá tai nghe là $100 và dịch vụ mạng là $20/tháng.

Như vậy, để xác định doanh thu cần ghi nhận, công ty sẽ phải phân bổ giá trị hợp đồng cho riêng tai nghe & dịch vụ mạng:

Items

$

%

Năm 1

Năm 2

Tai nghe$10017$480 * 17% = $830
Dịch vụ mạng$48083($480 – $83)/2 = $199$199
Tổng cộng$580100%$281$199

Bước 5. Ghi nhận doanh thu khi thực hiện xong nghĩa vụ hợp đồng.

“A performance obligation” được xác định là hoàn thành khi công ty chuyển giao quyền kiểm soát HHDV sang cho khách hàng. Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng có thể được coi là hoàn thành tại 1 thời điểm hoặc qua từng giai đoạn. Trường hợp này chúng ta gọi là: Hợp đồng với nghĩa vụ thực hiện xác định theo thời gian (Performance obligations satisfied over time)

Ví dụ. 1 công ty thực hiện hợp đồng bảo trì nâng cấp văn phòng cho khách hàng vào 1.1.20X8. Hợp đồng dự kiến kết thúc vào 31.12.20X9. Tổng giá trị hợp đồng $2m.

Trong năm 20X8:

  • Khách hàng đã phát hành chứng nhận khối lượng công việc hoàn thành cho 60% hạng mục công việc đã được thực hiện. 
  • Công ty đã phát hành hoá đơn  $0.5m
  • Chi phí đã phát sinh là $0.8m. Chi phí ước tính còn phát sinh đến khi hoàn thiện hợp đồng là $0.6m.

Yêu cầu: Xác định các chỉ tiêu liên quan cần ghi nhận cho báo cáo năm 20X8

Liên quan đến dạng hợp đồng thực hiện theo thời gian như này, công ty cần xác định các thông tin sau:

  • Doanh thu cần ghi nhận: Là giá trị công việc đã hoàn thành được khách hàng chấp nhận (% completion * Total contract value). Trong bài này: $2m * 60% = $1.2m
  • Chi phí cần ghi nhận: Chi phí đã phát sinh tương ứng với doanh thu ghi nhận. Trong bài này: 60% * ($0.8m + $0.6m) = $0.84m
  • Lợi nhuận cần ghi nhận: Phải tương ứng với % công việc hoàn thành & bao gồm điều chỉnh lợi nhuận cho các kỳ trước để đảm bảo tổng lợi nhuận ghi nhận là không đổi. 60% * ($2m – $0.8m – $0.6m) = $0.36m
  • Contract asset/Contract liability = Costs incurred to date + Recognized profits – Receivable = $0.8m + $0.36m – $0.5m = $0.66m

Lưu ý: Nếu hợp đồng dự tính sẽ bị lỗ. Công ty sẽ phải ghi nhận luôn toàn bộ khoản lỗ này vào năm tài chính hiện tại. Như ví dụ trên nhưng tổng giá trị hợp đồng chỉ là $0.9m.

Như vậy khoản lỗ sẽ phát sinh: $0.9m – $0.8m – $0.6m = -$0.5m. các chỉ tiêu phải ghi nhận:

  • Doanh thu: $0.9m * 60% = $0.54m
  • Lợi nhuận: – $0.5m
  • Chi phí: $0.54m – (-$0.5m) = $1.04m
  • Contract liability: $0.8m – $0.5m -$0.5m = $0.2m

Phần 3. Các trường hợp đặc biệt 

Việc chúng ta hiểu được 5 bước xác định doanh thu ghi nhận bên trên vô cùng quan trọng. Bởi vì trong thực tế có rất nhiều tình huống phức tạp. Và chúng ta phải vận dụng các nguyên tắc căn bản này để phân định có cần ghi nhận doanh thu hay không? Nếu có thì là bao nhiêu? Trong phạm vi F7, chúng ta sẽ xem xét các trường hợp sau:

(1) Bán hàng kèm quyền trả lại (“Sell goods with a right of return”)

Doanh thu cần được ghi nhận theo giá trị của số tiền công mà công ty kỳ vọng thu được cuối cùng sau khi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (sau khi tính ảnh hưởng của sản phẩm bị trả lại). Do vậy:

  • Nghĩa vụ nợ “refund liability” và khoản điều chỉnh doanh thu cần được ghi nhận dựa trên kỳ vọng của công ty về giá trị hàng bị trả lại.
  • Tài sản và khoản điều chỉnh giá vốn cũng cần được ghi nhận để phản ánh quyền thu hồi sản phẩm từ khách hàng của công ty trong quá trình xử lý hàng bán trả lại. 

(2) Hạch toán như nào với dịch vụ bảo hành (“Warranty”)?

 Cách hạch toán sẽ phụ thuộc vào bản chất của dịch vụ bảo hành: Có hình thành 1 nghĩa vụ thực hiện hợp đồng riêng biệt hay không?

Để trả lời thì chúng ta cần quay trở lại khái niệm “A separate obligation performance” đề cập bên trên. Có 2 trường hợp:

  • Không hình thành nghĩa vụ thực hiện hợp đồng riêng biệt. Ví dụ: Nếu dịch vụ bảo hành là “bắt buộc” hoặc dịch vụ bảo hành này chỉ có ý nghĩa đơn giản là sản phẩm sẽ vận hành như đảm bảo, không bị lỗi. Khi đó: Dịch vụ bảo hành này không được hạch toán theo IFRS 15 – Chuẩn mực về doanh thu. Mà sẽ được hạch toán theo IAS 37.
  • Có hình thành nghĩa vụ thực hiện hợp đồng riêng biệt. Ví dụ như khách hàng có thể lựa chọn mua hoặc không mua dịch vụ này. Với mức giá riêng biệt. Thì khi đó dịch vụ bảo hành này sẽ hình thành 1 “separate performance obligation”. Do đó công ty sẽ phải hạch toán doanh thu từ dịch này 1 cách riêng biệt theo IFRS 15.

(3) Phân biệt Người uỷ thác (“Principal”) và Đại lý (“Agent”) và vai trò này ảnh hưởng như nào đến việc ghi nhận doanh thu?

Không phải lúc nào doanh nghiệp cũng trực tiếp bán HHDV của mình. Mà có thể thông qua các bên trung gian. Bên đại lý sẽ thực hiện dịch vụ “uỷ thác”, thu xếp để công ty bán sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng và hưởng hoa hồng do công ty trả. Trước khi hàng hoá, dịch vụ được bán cho bên thứ 3, quyền sở hữu & rủi ro gắn liền với hàng hoá vẫn thuộc về công ty sản xuất.

Khi đó:

  • Công ty trực tiếp sản xuất được gọi là Người uỷ thác (“Principal”)
  • Bên trực tiếp tiêu thụ sản phẩm gọi là Đại lý (“Agent”)

Tại sao chúng ta cần phân biệt trong giao dịch bán hàng hoá, mình là “Agent” hay là “Principal”?

  • Agent: chúng ta chỉ có nghĩa vụ tiêu thụ hàng hoá & nhận hoa hồng. Do vậy, chỉ ghi nhận doanh thu từ hoa hồng được hưởng.
  • Principal: chúng ta ghi nhận doanh thu từ tiêu thụ hàng hoá.

Các dấu hiệu thể hiện bạn là “Principal”:

  • Bạn phải phải chịu trách nhiệm đầu tiên đối với cam kết thực hiện hợp đồng
  • Bạn phải chịu rủi ro gắn với hàng hoá: trước hoặc sau khi hàng hoá được chuyển giao quyền kiểm soát cho khách hàng
  • Công ty có quyền tự do quyết định giá cả cho HHDV

(4) Thoả thuận mua lại (“Repurchase agreement”)

Là dạng thoả thuận mà theo đó 1 bên bán hàng hoá/tài sản và cam kết hoặc có quyền chọn mua lại Hàng hoá đã bán. Có 3 dạng:

  • Công ty có nghĩa vụ mua lại hàng hoá/tài sản đã bán (A forward contract)
  • Công ty có quyền để mua lại tài sản đã bán (A call option)
  • Công ty phải mua lại tài sản nếu khách hàng yêu cầu (A put option)

Tuỳ vào thoả thuận thuộc dạng nào mà chúng ta sẽ phải hạch toán theo các cách khác nhau. Nhưng nhìn chung: Khi Giá mua lại > Giá bán ban đầu: hạch toán giao dịch như công cụ tài chính. Còn khi Giá mua lại < Giá bán ban đầu:

  • “A forward contract”hoặc “A call option”: công ty vấn nẵm quyền kiểm soát hàng hoá. Không thoả mãn điều kiện để hạch toán doanh thu. Do vậy, công ty sẽ hạch toán giao dịch này theo dạng “Lease” (IFRS16). 
  • “A put option”: Nếu khách hàng không có động lực kinh tế trọng yếu để thực hiện quyền này: hợp đồng được hạch toán là doanh thu bán hàng với quyền trả lại. Còn khi khách hàng có động lực kinh tế trọng yếu để thực hiện quyền trả lại này, công ty sẽ hạch toán giao dịch này theo dạng “Lease” (IFRS16). 

(5) Thoả thuận gửi bán (“Consignment arrangements”)

Công ty có thể gửi hàng cho 1 bên khác (dealer) để tiêu thụ sản phẩm. Khi đó bên nhận sẽ không có quyền kiểm soát sản phẩm tại thời điểm đó.

  • Công ty vẫn sẽ có quyền kiểm soát đối với hàng hoá cho đến khi hàng hoá được bán
  • Công ty có thể yêu cầu lấy lại hàng hoá và chuyển cho bên khác
  • Nhà phân phối không có nghĩa vụ phải thanh toán cho HH đó

(6) (“Bill-and-hold arrangements”)

Theo thoả thuận này, hàng hoá đã được bán nhưng người bán vẫn giữ số hàng này trong 1 khoảng thời gian. Có thể vì khách hàng không có nhà kho chứa hàng.

Trường hợp này, quan trọng là xác định thời điểm khách hàng đạt được quyền kiểm soát với số hàng hoá để làm cơ sở ghi nhận doanh thu. Thông thường quyền kiểm soát được coi là đã chuyển giao khi hàng được chuyển đến cho người mua. Nhưng nhiều trường hợp, quyền kiểm soát vẫn sẽ được coi là đã chuyển giao ngay cả khi hàng vẫn ở trong kho của người bán.

Để xem chủ đề này được đề cập đến đề thi như nào, các bạn xem tại Dạng bài Lập Báo cáo tài chính (Phần 2).

Bài viết tiếp theo, mình sẽ đi giải thích về chủ đề khó nhằn của môn F7: “Financial Instruments”. Các bạn theo dõi nhé!

ACCA F7: CHỦ ĐỀ “PRESENTATION OF FINANCIAL STATEMENTS” – P2

Bài 7 của Series hướng dẫn tự học ACCA F7 Financial Reporting: Chủ đề “Published financial statements” – Phần 2

(Video 5 – Video 10) 

Tiếp theo bài https://tuonthi.com/acca-f7-published-financial-statements/ :  trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu cách xử lý dạng bài “Preparation of financial statements” cho 3 loại báo cáo còn lại. Bao gồm:

  • BCĐKT
  • Báo cáo kết quả HĐKD
  • Báo cáo thay đổi VCSH

3. “Presentation of financial statements” – Các tình huống thường gặp & cách xử lý

3.1. Tình huống thường gặp trong kỳ thi

(1) Đề bài cung cấp Trial Balance hoặc BCTC dự thảo

(2) Đưa ra các giao dịch cần điều chỉnh hoặc hạch toán bổ sung. Các giao dịch thường gặp:

Khoản mụcTình huống
1. Non-current assets (Chương 3 – Chương 4 – Chương 5 – Chương 12)Depreciation: Tài sản chưa được trích khấu hao. Có thể tính khấu hao theo phương pháp Số dư giảm dần (“Reducing Balance method”) hoặc Phương pháp đường thẳng (“Straight line method”)

Revaluation: Tài sản như đất hoặc nhà xưởng… chưa được đánh giá lại theo Giá trị hợp lý (“Fair Value”)

Lease: Tài sản được mua theo hình thức hợp đồng thuê nên ngoài việc trích khấu hao cần phải tính cả chi phí tiền lãi, tiền gốc phải trả hàng năm. Nhưng công ty chưa phản ánh các bút toán này.
2. Revenue (Chương 6)Công ty ghi nhận doanh thu khi không thoả mãn điều kiện. VD: giao dịch thu chi hộ
Công ty chưa ghi nhận doanh thu & giá vốn cho hợp đồng dài hạn (“Contract with performance obligation over time”)
3. Financial instruments & Equity(Chương 11)Loan Notes: Công ty chưa ghi nhận chi phí tiền lãi phát sinh từ các Loan notes

Rights issue: Công ty phát hành “Rights issue” và đã thu xong tiền về nhưng chưa hoàn thành hạch toán vào sổ sách

Dividends: Công ty chi trả cổ tức trong kỳ nhưng chưa ghi nhận

Convertible loan notes: Công ty đã ghi nhận chi phí lãi vay trả hàng kỳ (chi phí danh nghĩa) nhưng chưa ghi nhận chi phí lãi vay thực tế phát sinh
4. Deferred tax/Provision for tax liability (Chương 15)Chênh lệch giữa cơ sở tính thuế (“Tax base”) và Giá trị ghi sổ (“Carrying amount”) của tài sản thuần của công ty làm phát sinh “Deferred tax” nhưng chưa được ghi nhận hợp lý. Kéo theo khoản dự phòng cho nghĩa vụ thuế chưa được phản ánh hợp lý.
5.  Accounting policies, changes in accounting estimates & errors (Chương 17)Công ty bỏ sót giao dịch chưa hạch toán hoặc phát hiện các vụ gian lận do nhân viên thực hiện khiến công ty bị tổn thất tài chính

(3) Yêu cầu lập BCĐKT hoàn chỉnh

Để xử lý tình huống này, chúng ta làm như sau:

  • Xác định ảnh hưởng của các giao dịch đến các tài khoản liên quan
  • Tổng hợp ảnh hưởng liên quan lên Retained Earnings
  • Tính ra số dư cuối kỳ đúng của các tài khoản liên quan này
  • Lập BCTC chính thức theo các mẫu báo cáo chúng ta đã tìm hiểu ở Phần 1. Tổng quan về các loại BCTC 

3.2. Cách xử lý – Non-current assets

(1) Kiến thức quan trọng cần biết

Trong phạm vi môn F7, chúng ta sẽ gặp 4 loại tài sản cố định:

  • Property, pland & equipment (PPE): Là các TSCĐ được doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất HHDV,  quản lý, bán hàng và có thời gian sử dụng ước tính hơn 1 kỳ
  • Investment property: Là nhà cửa, đất đai được doanh nghiệp giữ để cho thuê hoặc chờ tăng giá thay vì sử dụng phục vụ HĐKD (như PPE) hoặc bán trong kỳ (như hàng tồn kho)
  • Intangible assets: Là các tài sản phi tiền tệ có thể xác định được nhưng không có hình thái vật chất.
  • Leased assets: là đối tượng của hợp đồng thuê, theo đó bên  cho thuê sẽ trao quyền sử dụng tài sản cho bên đi thuê.

Với mỗi loại tài sản này, chúng ta cần nắm được các thông tin sau: 

  • Khái niệm &điều kiện ghi nhận (Recognition)
  • Xác định nguyên giá (Initial cost)
  • Trích khấu hao (Depreciation/Amortisation)
  • Đánh giá lại cuối năm (Revaluation)
  • Đánh giá suy giảm giá trị (Impairment)

Các phần kiến thức này đều đã trình bày trong sách BPP. Mình không nhắc lại nữa. Các bạn có thể ôn tập & kiểm tra kiến thức của phần này với Quizzes của web.

(2) Xử lý tình huống

F Co có thông tin về TSCĐ tại ngày 31.3.20X8 như sau: 

Items (Non-current assets)$m$m
Leased property (Cost) at 31.Mar.20X848
Leased property (Accumulated depre.cost) at 1.Apr.20X716
PPE (Cost) at 31.Mar.20X847.5
PPE (Accumulated depre.cost) at 1.Apr.20X733.5
Lease payments8

(i) Leased property có thời hạn sử dụng là 12 năm. 1.Apr.20X7: Công ty đã thuê thực hiện đánh giá lại giá trị và giá trị định gía là $36m. Tại ngày định giá, thời gian sử dụng còn lại là 8 năm. F Co chưa phản ánh giao dịch này vào BCTC. Biết rằng hàng năm công ty đều sẽ thực hiện “transfer” từ “Revaluation surplus” sang “Retained Earnings” để phản ánh giá trị tài sản tăng đã thực hiện trong kỳ. Và việc định giá lại giá trị tài sản sẽ không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế hoãn lại của F Co.

(ii) 1.Apr.20X7: F Co mua 1 nhà xưởng theo dạng thuê tài chính với lãi suất là 10% pa. Lease payments trên TB phản ánh khoản đặt cọc ban đầu là $2m trả vào 1.Apr.20X7 và khoản thanh toán tiền thuê đầu tiên là $6m đã trả vào 31.3.20X8.  Theo hợp đồng, F Co sẽ phải trả thêm $6m/lần vào 31.Mar trong 4 năm tiếp theo. Giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu = Initial measurement của tài sản là $25m.

(iii) PPE (không bao gồm Leased plant) khấu hao 20% pa theo phương pháp số dư giảm dần. Trong kỳ công ty chưa trích khấu hao cho bất cứ tài sản nào. 

Để giải quyết tình huống này, chúng ta sẽ cần giải quyết 2 vấn đề:

  • Lập bảng Movement của tài sản để xác định giá trị tài sản tại 31.Mar.20X8
  • Lập bảng Movement để xác định nghĩa vụ nợ “Lease liability” (Nợ gốc & Nợ lãi) phát sinh từ hợp đồng thuê tài chính

(Working 1) Non-current asset movement

ItemsLeased property ($m)PPE ($m)Leased plant ($m)
Cost4847.50
Accumulated depreciation(16)(33.5)
Balance at 1.Apr.20X7321425
Revaluation surplus4
Revised carrying amount36
Depreciation (*)(4.5)(2.8)(5)
Balance at 31.Mar.20X831.511.220

(*) Depreciation expenses for the year 20X8:

  • Leased property = $36m / 8 years = $4.5m/year
  • PPE = $14m * 20% = $2.8m
  • Leased plant = $25m/5 years = $5m/year

Từ bảng movement trên, chúng ta rút ra được các kết quả sau: 

  • Chỉ tiêu PPE trên BCĐKT tại ngày 31.3.20X8: $31.5m + $11.2m + $20m = $62.7m
  • Chi phí khấu hao tính vào Profit/Loss trong kỳ: $4.5m + $2.8m + $5m = $12.3m
  • Giá trị “transfer” từ Revaluation sang Retained Earnings: $4m / 8 years = $0.5m

(Working 2) Lease liability

ItemsInstallments ($m)Interest 10% ($m)Total ($m)
Initial measurement25
Deposit(2)
Balance at 1.Apr.20X723
Addition(6)2.3(3.7)
Balance at 31.Mar.20X819.3
Addition(6)1.93(4.07)
Balance at 31.Mar.20X915.23

Từ  bảng movement trên, chúng ta rút ra được các kết quả sau: 

  • Nghĩa vụ nợ thuê tài chính ngắn hạn tại 31.Mar.20X8: $4.07m
  • Nghĩa vụ nợ thuê tài chính dài hạn tại 31.Mar.20X8: $15.23m

3.3. Cách xử lý – Revenue

Các giao dịch liên quan đến doanh thu thường xuất hiện trong dạng bài lập BCTC của đề thi môn F7. Để hiểu rõ, chúng ta sẽ lần lượt đi xem 4 ví dụ tương ứng với đề thi của 4 năm. Dec/2018; June/2018; June/2016 và Dec/2015. Tuy nhiên trước tiên chúng ta cần đi tìm hiểu các kiến thức cơ bản về Doanh thu. Các bạn xem bài sau: ACCA F7 Video Lectures – Chủ đề “Revenue”

ACCA F7: CHỦ ĐỀ “PRESENTATION OF PUBLISHED FINANCIAL STATEMENTS” (VIDEO UPDATED)

Bài 6 của Series hướng dẫn tự học ACCA F7 Financial Reporting: Chủ đề “Published financial statements” – Phần 1

(Video 1 – Video 4)

Trong bài Tổng quan về BCTC hợp nhất đã đề cập: các công ty phải lập 1 bộ đầy đủ “Published financial statements” ít nhất 1 lần/năm bao gồm:

  • Bảng cân đối kế toán (“A statement of financial position”);
  • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (“A statement of profit and loss and other comprehensive income”)
  • Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (“A statement of cash flows”);
  • Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu (“A statement of changes in equity”);
  • Thuyết minh BCTC (“Notes”)

BCTC chính là sản phẩm cuối cùng của công việc kế toán. Chính vì vậy nên việc lập BCTC là rất quan trọng trong thực tế cũng như trong chương trình học của F7. Bạn nào đã xem đề thi F7 các năm sẽ thấy dạng bài lập BCTC chính là 1 trong 3 dạng bài tập phổ biến ở Section C.

Tình huống thường đưa ra “Trial Balance” hoặc “Draft Financial Statements” cùng thông tin về các giao dịch cần điều chỉnh. Sau đó yêu cầu chúng ta xác định ảnh hưởng của từng giao dịch này và lập “Final financial statements”.

Như vậy để xử lý được dạng bài này, chúng ta cần nắm được cách lập từng báo cáo trong bộ “Published financial statements” này. Đồng thời nắm được cách xử lý các giao dịch tình huống đưa ra. Các giao dịch này thuộc rải rác ở 1 số chủ đề nhỏ. VD: non-current assets, financial instruments, deferred tax…

Chính vì vậy dạng bài này yêu cầu chúng ta phải có kiến thức tương đối tổng hợp. Tuy nhiên các bạn cũng không cần quá lo lắng. Vì cũng chỉ có 1 số tình huống thường gặp nhất định. Chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ.

Trong chủ đề này, chúng ta giải quyết các vấn đề sau:

  • Yêu cầu chung với việc lập & trình bày BCTC
  • Cách lập từng loại báo cáo
  • Các giao dịch thường gặp trong đề thi

1. Yêu cầu chung với việc lập & trình bày BCTC

1.1 Các “thông tin chung bắt buộc” trên BCTC

Ở phần BCTC hợp nhất, các bạn đã làm quen với mẫu của các loại báo cáo rồi. Tuy nhiên chúng ta phải hiểu rằng không phải ngẫu nhiên mà các báo cáo lại được trình bày như vậy. Tất cả đều có lý do. Đó chính là các mẫu báo cáo này đều được lập theo quy định của IAS 1 và IAS 7.

Theo quy định tại IAS 1, BCTC không chỉ có các tài khoản mà còn có các thông tin khác mà chúng ta cần trình bày ở vị trí nổi bật, dễ thấy:

  • Tên của đơn vị báo cáo
  • Đơn vị báo cáo là 1 công ty hay 1 tập đoàn
  • Ngày kết thúc kỳ kế toán/Kỳ kế toán
  • Đồng tiền báo cáo
  • Mức độ làm tròn số
  • Lý do không sử dụng năm tài chính là 1 năm trường hợp công ty lập BCTC cho giai đoạn ít hơn hoặc nhiều hơn 1 năm. Đồng thời chỉ rõ số liệu so sánh trình bày trên BCTC không thực sự so sánh được với nhau do năm tài chính không phải 1 năm.

1.2. Mẫu Bảng cân đối kế toán sử dụng (“A statement of financial position”)

BCĐKT sẽ trình bày tình hình tài chính của 1 chủ thể tại 1 ngày nhất định (cuối kỳ kế toán). Như vậy, BCĐKT sẽ trình bày số dư của các tài khoản có số dư tại ngày cuối kỳ bao gồm 3 yếu tố Tài sản, Công nợ & VCSH.

Các bạn lưu ý rằng IAS 1 không quy định định dạng cố định cho BCĐKT. Khoản mục tài sản có thể được trình bày từ TS ngắn hạn đến TS dài hạn hoặc ngược lại. Và các khoản nợ phải trả & VCSH có thể được biểu diễn theo nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, đến VCSH. Hoặc ngược lại.

Các bạn xem Mẫu Bảng cân đối kế toán. Đây là mẫu báo cáo thường được dùng trong sách F7. Từ mẫu này bạn có thể thấy:

  • Có sự tách biệt giữa tài sản ngắn hạn & tài sản dài hạn, nợ ngắn hạn & nợ dài hạn
  • Mọi khoản mục tài sản/nợ phải trả nếu bao gồm cả phần phải nhận/phải trả trong vòng 12 tháng và sau 12 tháng thì sẽ phải tách thành 2 phần tương ứng để trình bày riêng.

1.3. Mẫu báo cáo kết quả HĐKD (“A statement of profit or loss and other comprehensive income”)

(1) BCKQHĐKD sẽ phản ánh kết quả các khoản thu nhập, chi phí phát sinh trong suốt 1 kỳ kế toán. Các bạn xem Mẫu Báo cáo Kết quả Hoạt động kinh doanh. Nhìn mẫu báo cáo, chúng ta thấy BCKQHĐKD gồm các phần sau:

  • “Profit or Loss” được hiểu là tổng thu nhập – tổng chi phí không bao gồm các yếu tố của “other comprehensive income”
  • “Other comprehensive income” được hiểu là các khoản mục thu nhập & chi phí không được ghi nhận là Lãi/Lỗ theo quy định.
  • “Total comprehensive income” được hiểu là sự thay đổi trong VCSH trong kỳ phát sinh do các giao dịch & sự kiện hơn là sự thay đổi từ các giao dịch giữa các chủ sở hữu.
  • Phân bổ cho phần thuộc về chủ sở hữu và phần thuộc về NCI trong trường hợp báo cáo hợp nhất.

(2) Công ty có thể lựa chọn để lập báo cáo kết quả HĐKD theo 2 cách.

  • 1 báo cáo đơn lẻ với Profit/Loss & Other comprehensive income được trình bày ở 2 phần riêng biệt. Đây là cách được sử dụng trong F7.
  • 2 báo cáo bao gồm: 1 báo cáo Profit/Loss riêng biệt & 1 báo cáo “comprehensive income”

(3) Các khoản mục chi phí cần được thể hiện ở “Profit or loss” hoặc phần Thuyết minh theo chức năng hoặc bản chất. Trong F7, chúng ta sẽ lập báo cáo với khoản mục chi phí thể hiện ở “Profit or loss” và phân chia theo chức năng. Vì phương pháp này thường cung cấp nhiều thông tin liên quan cho người dùng.

(4) Phần “Other comprehensive income” phải trình bày các chỉ tiêu được phân loại theo bản chất của chúng.

1.4. Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (“A statement of cash flow”)

(1) Báo cáo LCTT là gì?

Trước khi nói về báo cáo này chúng ta phải làm rõ 1 vấn đề:

  • Công ty có thể bán hàng ghi nhận doanh thu trong kỳ khi chưa thực thu tiền
  • Công ty có thể mua hàng ghi nhận chi phí trong kỳ khi chưa thực chi tiền

Do vậy, ghi nhận doanh thu/chi phí không đồng nghĩa với dòng tiền vào/dòng tiền ra thực sẽ phát sinh ở doanh nghiệp. Trong khi chúng ta biết tầm quan trọng của “tiền”. Dù lợi nhuận cao bao nhiêu mà không thực có dòng tiền thì cũng rất nguy hiểm.

Chính vì vậy, ngoài BCKQHĐKD công ty còn phải lập thêm Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Báo cáo này phân tích sự thay đổi trong khoản mục tiền & tương đương tiền trong kỳ. 

Trong đó:

  • Tiền: bao gồm tiền mặt & tiền gửi có thể sử dụng theo nhu cầu
  • Tương đương tiền: bao gồm các khoản tiền gửi ngắn hạn & có độ thanh khoản cao – có khả năng chuyển đổi sang 1 lượng tiền tương ứng mà không phải chịu rủi ro do thay đổi trong giá trị

(2) Có 2 phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

  • Phương pháp trực tiếp: Trực tiếp xác định các dòng tiền phát sinh cho từng hoạt động của công ty. Sau đó tính ra dòng tiền thuần phát sinh trong kỳ.
  • Phương pháp gián tiếp: Điều chỉnh chỉ tiêu “Net profit/Loss” để loại trừ ảnh hưởng của các giao dịch “non-cash”. Từ đó xác định dòng tiền thuần phát sinh trong kỳ

Phương pháp trực tiếp được khuyến khích hơn vì nó có thể sử dụng để ước tính dòng tiền trong tương lai. Nhưng trong thực tế thì phương pháp gián tiếp lại được sử dụng rộng rãi hơn vì đơn giản.

Các bạn xem mẫu sau:

Báo cáo LCTT theo phương pháp gián tiếp

Báo cáo LCTT theo phương pháp trực tiếp

(3) Phân chia dòng tiền trên Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ

Nhìn vào 2 mẫu báo cáo chúng ta có thể thấy rằng:

Dù lập theo phương pháp nào thì Báo cáo LCTT cũng dựa trên nguyên tắc đầu tiên là:

Số dư tiền cuối kỳ = Số dư tiền đầu kỳ + Dòng tiền thuần phát sinh trong kỳ.

Trong đó: Dòng tiền thuần phát sinh trong kỳ được xác định từ 3 nhóm hoạt động:

  • “Operating activities”: là các hoạt động chính tạo ra doanh thu của doanh nghiệp & các hoạt động khác mà không phải là hoạt động đầu tư (Investing activities) & hoạt động tài chính (Financing activities). Ví dụ về dòng tiền phát sinh từ “Operating activities” là: tiền thu từ bán HHDV, tiền chi thanh toán mua HHDV, tiền chi thanh toán lương.
  • “Investing activities”: là các hoạt động như mua hoặc bán các tài sản dài hạn & các khoản đầu tư không bao gồm trong “Cash equivalent”. Ví dụ về dòng tiền phát sinh từ “Investing activities” là: tiền chi mua sắm tài sản dài hạn, tiền thu được từ thanh lý tài sản, tiền thanh toán/tiền thu được do mua/bán cổ phiếu của công ty khác/
  • “Financing activities”: là các hoạt động làm phát sinh sự thay đổi trong cấu tạo & quy mô của VCSH và các khoản công nợ. Ví dụ về dòng tiền phát sinh từ “Investing activities” là: tiền thu được từ phát hành cổ phiếu/phát hành trái phiếu/đi vay; tiền gốc thanh toán cho hợp đồng thuê (tiền lãi trả sẽ là “Operating activities”)

Lưu ý: 

  • Cổ tức công ty chi trả cho cổ đông có thể được xếp vào mục “Operating activities” hoặc là “Financing activities”. Bởi vì xét từ khía cạnh cổ tức là chi phí vay vốn mà công ty phải trả cho nhà đầu tư thì đây là “Financing activities”. Còn xét từ khía cạnh nhà đầu tư là chủ sở hữu của công ty thì cổ tức có thể được xếp vào “Operating activities”.
  • Với các khoản vay của công ty: tiền gốc được xếp vào “Financing activities” vì dòng tiền này làm thay đổi cấu trúc Equity/Debt của công ty. Còn tiền lãi vay đã trả được xếp vào “Operating activities” vì dòng tiền này là 1 loại chi phí thông thường để duy trì hoạt động của doanh nghiệp.

1.5. Báo cáo thay đổi VCSH (“A statement of changes in equity”)

Báo cáo này phản ánh sự thay đổi của các khoản mục chi tiết trong VCSH trong kỳ kế toán. Các bạn xem Mẫu Báo cáo thay đổi trong VCSH.

Nhìn mẫu này ta thấy Báo cáo thay đổi VCSH phải trình bày các khoản mục chi tiết trong VCSH cho các nội dung:

(1) Số dư đầu kỳ

(2) Số phát sinh thay đổi trong kỳ theo từng loại nguyên nhân thay đổi:

  • Lãi lỗ trong kỳ
  • “Other comprehensive income” chia tách cho từng khoản mục
  • Vốn cổ phần phát hành trong kỳ
  • Giá trị cổ tức đã chi trả cho chủ sở hữu

(3) Số dư cuối kỳ

1.6. Thuyết minh BCTC (“Notes”)

Trong đề thi chúng ta thường không được yêu cầu lập Thuyết minh BCTC. Tuy nhiên chúng ta vẫn cần nắm được nội dung chính để xử lý các câu hỏi trắc nghiệm.

Thuyết minh BCTC có mục đích mở rộng các thông tin trình bày trên BCTC:

  • Phân tích chi tiết hoặc chia nhỏ các số liệu trên BCTC
  • Thông tin thuyết minh giải thích cho các số liệu trên BCTC
  • Thông tin bổ sung

IAS 1 đưa ra gợi ý về thứ tự trình bày các nội dung trên thuyết minh BCTC như sau:

  • Báo cáo về việc tuân thủ IFRS
  • Báo cáo về cơ sở đo lường & các chính sách kế toán áp dụng
  • Thông tin hỗ trợ cho các khoản mục được trình bày trên BCTC theo đúng thứ tự tương ứng của các chỉ tiêu này
  • Tiết lộ các thông tin khác về các khoản công nợ hay cam kết tiềm tàng; giá trị cổ tức được thông báo chi trả trước khi BCTC được phát hành nhưng chưa trả cho chủ sở hữu; giá trị của cổ tức ưu đãi luỹ kế chưa được ghi nhận…

Có 1 số thông tin luôn được yêu cầu phải trình bày ở phần Thuyết minh nếu chưa trình bày ở phần khác như: Địa chỉ đăng ký, mô tả bản chất hoạt động của công ty, tên công ty mẹ & tên tập đoàn…

Trong phạm vi môn F7, chúng ta sẽ cần biết cách lập cả 4 loại BCTC: BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT & BC thay đổi trong VCSH. Sau đây chúng ta sẽ cùng đi xem cách lập từng loại báo cáo này cũng như các tình huống thường gặp trong đề thi.

2. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ – Cách lập & tình huống thường gặp

2.1. Tình huống thường gặp trong kỳ thi

Đề bài thường cung cấp:

(1) BS & PL

(2) Các tình huống để xác định dòng tiền của doanh nghiệp, thường liên quan đến:

  • Chi phí khấu hao (PPE/Lease/Development projects) đã được ghi nhận trong kỳ
  • Thanh lý tài sản
  • Chi phí tài chính (debenture interest/lease finance charge)
  • Bonus issue of shares/Rights issue/Dividends
  • Lãi lỗ từ đánh giá lại tài sản
  • Thuế đã nộp

Sau đó yêu cầu chúng ta lập Báo cáo LCTT đầy đủ theo “Direct method”/ “Indirect method” hoặc chỉ 1 phần của báo cáo.

Để giải quyết được bài tập này, chúng ta cần:

  • Hiểu “Format” & cách điền các chỉ tiêu trên Báo cáo LCTT theo 2 phương pháp
  • Xác định và phân loại các dòng tiền từ thông tin đề bài đưa ra

2.2. Cách lập báo cáo

(1) Lập BCLCTT theo “Indirect method”

Bước 1. Xác định chỉ tiêu “Profit/Loss before taxation”. Chỉ tiêu này thường được cung cấp sẵn thông tin trên PL.

Bước 2. Xác định 3 nhóm chỉ tiêu cần điều chỉnh:

Nhóm 1: Giá trị các khoản mục phi tiền tệ phát sinh trong kỳ. Đề bài thường cho sẵn thông tin trong phần Notes hoặc PL. Nếu là khoản mục chi phí thì chúng ta (+) còn nếu là khoản mục lợi nhuận thì chúng ta (-).

  • Chi phí khấu hao
  • Các khoản dự phòng 
  • Lãi/lỗ chênh lệch tỷ giá
  • Lãi/lỗ do thanh lý TSCĐ
  • Chi phí lãi vay đã trích trong kỳ (“Interest expense”)

Nhóm 2: Chênh lệch số dư đầu kỳ – cuối kỳ của các khoản mục làm biến động dòng tiền trong kỳ: Hàng tồn kho; Các khoản phải thu; Các khoản phải trả. Với nhóm này, chúng ta chỉ cần lấy số dư cuối kỳ – số dư đầu kỳ là xong

  • Hàng tồn kho: Nếu là biến động tăng sẽ có ý nghĩa là công ty bị tồn đọng tiền trong HTK. Do vậy số dư tiền phải giảm (-). Và ngược lại.
  • Các khoản phải thu: Nếu là biến động tăng sẽ có nghĩa là công ty đang bị khách hàng chiếm dụng vốn, thu được ít tiền hơn. Do vậy số dư tiền phải giảm (-). Và ngược lại.
  • Các khoản phải trả: Nếu là biến động tăng sẽ có nghĩa công ty đang chiếm dụng được vốn của nhà cung cấp, phải trả ít tiền hơn. Do vậy, số dư tiền phải tăng (+). Và ngược lại.

Nhóm 3: Giá trị các khoản doanh thu/chi phí thuộc “Investing activities” hoặc “Financing activities”. VD: Interest income. Nếu là khoản mục chi phí thì chúng ta (+) còn nếu là khoản mục lợi nhuận thì chúng ta (-).

Sau khi lấy “Profit/Loss before taxation” điều chỉnh cho 3 nhóm chỉ tiêu này, chúng ta sẽ tính ra được “Cash generated from operation”.

Bước 3. Xác định các khoản chi trực tiếp được phân loại vào “Operating activities”:

  • Interest paid = Interest payables at the beginning of period (BS) + Interest expense (PL) – Interest payables at end of period (BS)
  • Income taxes paid = (Current tax liability + Deferred tax liability) at the beginning of period (BS) + Tax expense (PL) – (Current tax liability + Deferred tax liability) at end of period (BS)
  • Dividends paid = RE at the beginning of period (BS) + Profit of the year (PL) – Adjustments (Notes) – RE at end of period (BS)

Bước 4. Tính ra chỉ tiêu “Net cash from operating activities” bằng cách tổng hợp kết quả từ Bước 1 đến Bước 3

Bước 5. Xác định các chỉ tiêu thuộc “Investing activities”

  • Chỉ tiêu “PPE purchased” = Opening Balance (BS) + Revaluation Surplus (BS) – Disposed Carrying amount (Notes) – Closing balance (BS)
  • Chỉ tiêu “Proceeds from sales of PPE/Intangible assets”: cung cấp sẵn ở Notes hoặc tự xác định = Carrying amount + Profit/(Loss)
  • Chỉ tiêu “Interest income received”: cung cấp sẵn ở Notes hoặc tự tính

Bước 6: Xác định các chỉ tiêu thuộc “Financing activities”

  • Chỉ tiêu “Proceeds from issue of share capital” =  Share equity at beginning of period (BS) + Bonus issue (BS) – Share equity at end of period (BS)
  • Chỉ tiêu “Proceeds from long-term borrowings” = Closing balance (BS) – Opening balance (BS) + Payment of Long-term borrowings (Notes)
  • Chỉ tiêu “Payment of Lease liability” = Lease liability at beginning of period (BS) + Lease addition (Notes) – Lease liability at end of period (BS)

Bước 7. Xác định tiền & tương đương tiền tăng giảm trong kỳ

(2) Lập BCLCTT theo “Direct method”

Bước 1. Xác định chỉ tiêu “Net Cash from Operating activities”

  • Chỉ tiêu “Cash received from customers” = Receivables balance at beginning of period (BS) + Revenue (PL) – Receivables balance at end of period (BS)
  • Chỉ tiêu “Cash paid to suppliers” = Payables balance at beginning of period (BS) + Purchases & Other expenses – Payables balance at end of period (BS)

Trong đó:

Purchases = Inventory balance at end of period (BS)  + COS (PL) – Inventory balance beginning of period (BS)

Other expenses = Total other expenses (PL) – Amortization/Depreciation (nếu có)

  • Chỉ tiêu “Cash paid to employees” = Employee payables balance at beginning of period (BS) + Labour Expenses (PL/Notes) – Employee payables at end of period (BS)
  • Interest paid / Taxes paid / Dividends paid: tương tự như “Indirect method”

Bước 2. Xác định các chỉ tiêu thuộc “Investing activities”

Bước 3. Xác định các chỉ tiêu thuộc “Financing activities”

Bước 4. Xác định tiền & tương đương tiền tăng giảm trong kỳ

(Từ Bước  2 – Bước 4: Thực hiện hoàn toàn giống như “Indirect method”)

2.3. Case study

(Updating)

Copyright © 2021 Tự ôn thi

Mọi bài viết và Videos thuộc bản quyền của Tuonthi.com. Mọi hành vi sao chép, phân phối trái phép là vi phạm bản quyền.